20 Tháng 12 2014
Tên ngôn tình
You are here: Home / Tag Archives: truyen co trang

truyen co trang

Tag Archives: truyen co trang

Feed Subscription

Bộ bộ kinh tâm – Chương 42

Bộ bộ kinh tâm – Chương 42

Mới độ vào hè, trời chưa nóng hẳn, Khang Hy đã truyền lệnh chuẩn bị ra tái ngoại. Tuy năm nào cũng đi, nhưng mỗi lần đi Nhược Hi vẫn rất hân hoan, bởi rời khỏi Tử Cấm thành thì khuôn phép giảm bớt nhiều, cảnh tranh giành đấu đá hình như cũng xa hẳn ra. Cưỡi ngựa phóng nhanh dưới trời xanh mây trắng, tận hưởng ánh nắng ấm áp, làn gió hiền hoà, hương cỏ thơm thơm, nàng cảm thấy cuộc đời vẫn đẹp tươi, lòng vẫn biết thảnh thơi nhẹ nhõm.

Chuyến ra biên tái năm nay tổng cộng có chín a ca tuỳ hành, trong đó có Thái tử gia, Ngũ, Thất, Bát, Thập tứ và Thập ngũ a ca. Nhược Hi chỉ thi thoảng cười nói với Thập tứ a ca dăm ba câu, còn lại gắng tránh được ai thì tránh, nếu không tránh nổi thì thỉnh an xong là khẩn trương cáo lui.

Tháng ngày này có lẽ là những tháng ngày yên ả nhất của Nhược Hi. Hôm nào không phải đi làm, nàng lại một mình cưỡi ngựa lang thang trên thảo nguyên. Hứng thì quất ngựa phóng như bay khắp đồng cỏ, mệt thì nằm ngửa ra lưng ngựa để mặc nó đi thong dong. Lắm khi một người một ngựa lang thang từ buổi hừng đông đến khi ráng tà trải khắp trời, Nhược Hi ngắm nghía chỗ này, thưởng thức chỗ nọ, đói thì nhai lương khô, khát thì uống nước, một ngày vui riêng ta với ta cứ thế mà trôi. Ngọc Đàn nhận xét: “Cả ngày chị chỉ loanh quanh bên ngựa, hình như càng lúc càng không thích nói chuyện với người nữa ấy.”

Nhược Hi cúi mặt cười, nhận ra cả bản thân cũng không ý thức được mình biến thành như vậy tự khi nào. Từ nhỏ tới lớn, nàng là người chúa ghét cô độc lẻ loi, luôn thích rủ rê bạn bè tụ tập. Hồi mới đến Thâm Quyến làm việc, chưa có bạn, tan sở nàng chẳng muốn về nhà, toàn vào ngồi lì trong quán bar. Ngay dạo ở phủ Bối lặc, nàng cũng phải gọi bọn a hoàn bé đến chơi cùng, thế mà vẫn thở than “buồn tẻ quá, buồn tẻ quá”. Trước sau, nàng không hề biết nếu chỉ trơ trọi một mình thì để thời gian trôi bằng cách nào.

Tháng ngày vùn vụt đuổi xuân qua, nhuộm xanh hàng chuối nhuộm hồng hoa. Chỉ mấy mùa xanh hồng nối tiếp, nàng đã lặng lẽ thay đổi, bắt đầu biết thưởng thức cái thanh tĩnh của cô đơn. Thực ra, nếu có thể yên ổn như vậy mà sống đến hết đời thì kể cũng là phúc phận.

Năm nay, Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai vương gia và Mẫn Mẫn đều không sang, chỉ mình Hợp Truật vương tử đến bệ kiến Khang Hy. Mẫn Mẫn có nhờ y chuyển cho Nhược Hi một phong thư. Thư chưa đọc hết, nàng đã ôm bụng cười bò ra thảm. Mẫn Mẫn cho biết, từ tháng Tám năm ngoái, cáo biệt Khang Hy xong, Tá Ưng vương tử cũng chẳng buồn về bộ lạc mình, cứ một mực đi theo cô, rồi nhận lời mời của Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai mà ở lại vương phủ. Khắp thư toàn những chuyện Tá Ưng suốt ngày lẽo đẽo theo Mẫn Mẫn, tìm cách lấy lòng cô, đấu trí đấu dũng với cô, còn cô thì từ khước hoặc ngúng nguẩy lên nước đùa bỡn gã. Đến cuối thư, xem ra Mẫn Mẫn vẫn chưa rung động, nhưng lời lẽ bộc lộ rõ ràng sự tán thưởng đối với Tá Ưng và niềm vui thích khó bề che giấu.

Nhược Hi linh cảm đây chính là vì sao của Mẫn Mẫn rồi. Lần này chắc chắn Mẫn Mẫn không thể bỏ lỡ được, bởi Tá Ưng vương tử không đời nào cho phép cô phớt lờ gã. Nàng gần như trông thấy, hạnh phúc đang chờ họ cách đấy không xa.

Nhược Hi cầm thư đọc đi đọc lại, tâm trạng phấn khởi hẳn lên, cuối cùng nàng cũng có thể chứng kiến thứ hạnh phúc hoà hợp vui tươi, không có chỉ hôn, không có cưỡng ép, không có uất ức, không có tư lợi, chỉ có người yêu và người yêu.

Xem xong thư, nàng chạy khỏi lán, dắt ngựa lao ra đồng cỏ bao la, vừa giục ngựa phi nước đại vừa cười thoả thích, hạnh phúc của Mẫn Mẫn khiến nàng không kìm được nỗi thôi thúc muốn vui sướng vì cô. Đến khi thấy mệt, nàng mới giảm tốc, nằm sấp mình xuống lưng ngựa, nụ cười vẫn đọng nơi khoé môi.

Chợt nghe tiếng vó sắt, Nhược Hi mở bừng mắt thì thấy Bát a ca đang ruổi ngựa đi thong thả bên cạnh. Nét cười vụt tan biến, nàng vội ngồi thẳng dậy, vừa bái chào vừa nói:

– Nô tỳ còn vài việc bận, nếu Bối lặc gia không có gì sai bảo, nô tỳ xin cáo lui.

Bát a ca chằm chằm nhìn nàng, giọng đều đều:

– Ban nãy ta ở trên triền dốc nhìn em mãi. Lâu lắm rồi không thấy em vui vẻ như vậy.

Nhược Hi không biết nói sao, chỉ gằm mặt im lặng. Bát a ca dõi mắt ra xa, giọng nặng nề:

– Thế là em thôi hẳn ư?

Tim nhói đau, nhưng Nhược Hi vẫn điềm tĩnh đáp:

– Thôi hẳn!

– Lòng em đã có người khác?

Biết chàng hiểu lầm, song không muốn giải thích, nàng chỉ đáp đơn giản:

– Không.

Bát a ca quay mặt lại nhìn nàng:

– Ba năm nữa là đến tuổi xuất cung, em định để tuỳ Hoàng a ma chỉ hôn à?

Nhược Hi đáp bừa:

– Chuyện ngày mai để ngày mai lo, muôn sự không do mình, tính toán nhiều làm gì?

Nói đoạn cúi mình cáo từ. Bát a ca nhếch mép, gật đầu xua tay cho nàng đi. Nhược Hi ra roi quất ngựa chạy thẳng.

Chạy được một quãng ngắn, gặp ngay Thập tứ a ca đang gò cương dừng trên triền dốc, phóng mắt nhìn ra xa. Nghĩ lúc này gặp nhau, với tính cách ấy, thể nào gã cũng lại mắng mỏ mình một trận, Nhược Hi bèn giả vờ không trông thấy, thúc ngựa phóng thẳng về trại.

Trả ngựa vào tàu xong, Nhược Hi chậm chạp đi về lán, lòng chua xót khôn tả, cứ gằm đầu mà bước, chợt nghe tiếng hỏi:

– Nhược Hi, nghĩ gì thế?

Nhược Hi ngẩng đầu lên. Thấy Hợp Truật vương tử và Thái tử gia đang tủm tỉm đứng gần đấy, nàng bèn cúi mình thỉnh an.

Không hiểu là vì Mẫn Mẫn hay vì miếng ngọc bội mà Hợp Truật vương tử biệt đãi Nhược Hi hơn hẳn mọi người, bình thường y đều gọi thẳng tên nàng như gọi Mẫn Mẫn, lại liên tục nhắc nàng đừng khách sáo câu nệ với y. Nhược Hi mặc kệ, y thích bảo gì thì bảo, nàng nên làm sao thì nàng làm.

Hợp Truật cười nói:

– Ta nhìn cô lâu lắm rồi, thế mà cô chẳng phát hiện ra gì cả.

Nhược Hi đưa đà:

– Nô tỳ thất lễ, xin Thái tử gia và vương tử trách phạt.

Hợp Truật thở dài:

– Nói đùa thế thôi, ai trách cô mà phải tạ tội, sao lại thận trọng đa lễ thế? Nếu Mẫn Mẫn mà được một nửa của cô thôi thì a ma và ta không phải lo phiền nữa. Bây giờ cô đương hầu hạ Hoàng thượng, xem ra không có cơ hội, đợi mai này xuất cung rồi, ta sẽ đón cô về Mông Cổ vui chơi một thời gian, tiện sửa cái thói khuôn phép của cô đi.

Thái tử cười bảo:

– Bây giờ không có cơ hội vì Hoàng a ma đi đâu cũng dẫn Nhược Hi đi. Song ba năm nữa đến tuổi xuất cung, Hoàng a ma lại phải sắp xếp hôn nhân cho cô ấy. Bấy giờ vương tử có mời, e rằng không thể chỉ mời một mình Nhược Hi cô nương được.

Hợp Truật vương tử không nói gì, chỉ tủm tỉm cười.

Sao ai cũng quan tâm đến chuyện cưới cheo của nàng, cũng nhớ kỹ ngày tháng thế nhỉ? Hay cảm thấy nàng chưa đủ phiền muộn nên phải sốt sắng nhắc nhở thêm? Nhược Hi không muốn nói nữa, bèn nhoẻn cười hành lễ cáo từ. Thái tử gia nhìn nàng, mỉm cười cho lui.

Gió heo may về, Khang Hy ra lệnh nhổ trại hồi kinh. Nhược Hi ngồi trong xe ngựa, nhớ ra năm sau thái tử bị phế, bất giác thở dài. Ngày tháng sắp tới sẽ không còn dễ chịu như thế này đâu, phải phấn chấn lên mà đối diện với bão táp cung đình. Nghĩ lại vụ chỉ hôn, nàng thấy lòng càng phiền muộn. Nên làm thế nào đây?

oOo

Tháng Chín năm Khang Hy thứ năm mươi. Sướng Xuân viên.

Từ tái ngoại về, Khang Hy dọn thẳng đến Sướng Xuân viên. Nơi này gần phủ đệ của các a ca, cũng tiện cho bọn họ vào ra.

Hôm nay tình cờ gặp Thập tứ a ca, thấy gã không bận, Nhược Hi bèn gọi gã lại, cặn kẽ hỏi thăm tình hình Thập a ca và Thập phúc tấn. Kể từ năm kia, hồi Khang Hy triệu các a ca vào Ngự Hoa viên trò chuyện vui vẻ nhưng Thập a ca cáo bệnh không tới, Nhược Hi vẫn canh cánh bên lòng chuyện vợ chồng nhà họ, những muốn hỏi Thập a ca cho rõ ràng, nhưng chẳng dịp nào phù hợp, hoặc do gặp mặt nhưng nàng quên bẵng, hoặc do nhớ ra lại đúng lúc không tiện hỏi.

Thập tứ a ca phì cười:

– Nếu không phải chơi với nhau từ nhỏ, đảm bảo ta sẽ hiểu lầm cô. Sao cô lại quan tâm đến chuyện riêng vợ chồng người ta thế? Thật không hiểu cả ngày cô nghĩ ngợi những gì?

Nói thì nói vậy, nhưng gã vẫn kể lại những chuyện thú vị mà gã bắt gặp. Theo lời gã thì hai người bọn họ đều thuộc dạng ruột để ngoài da, tính tình hấp tấp, không nén được ấm ức, lại đều là người nông nổi nhẹ dạ, hợp thành đôi oan gia ồn ào, sống kiểu tiếng bấc quăng đi tiếng chì quăng lại.

Hai người đang cười nói thì Ngọc Đàn chạy lại gần, sắc mặt lo âu. Thỉnh an Thập tứ a ca xong, cô ngập ngừng nhìn Nhược Hi. Nhược Hi thôi cười, hỏi:

– Chuyện gì thế?

Ngọc Đàn liếc Thập tứ a ca, rồi nhìn Nhược Hi:

– Lúc nãy Thái tử gia… Thái tử gia… nói với Vạn tuế gia là muốn hỏi xin chị, mong Vạn tuế gia tứ hôn.

Nhược Hi điếng người, hai chân bủn rủn, lảo đảo chực ngã, Ngọc Đàn vội đỡ lấy nàng. Cô còn nói nhiều nữa, nhưng tai Nhược Hi đã ong ong, không nghe lọt chữ nào, chỉ nghĩ, ta đã gây nên tội nghiệt gì mà trời già chẳng rủ lòng thương?

Khi tỉnh táo hơn, nàng nhận ra mình đã ngồi trong phòng. Ngọc Đàn thổn thức:

– Chị ơi, chị làm em sợ quá!

Nhược Hi nặng nhọc trỏ chén trà, Ngọc Đàn vội bưng lại để nàng uống mấy ngụm. Nhược Hi thấy người bàng hoàng, chống chếnh, không biết nên nghĩ gì, nên làm gì nữa, buột hỏi:

– Thập tứ a ca đâu?

Ngọc Đàn đáp:

– Thập tứ gia nghe xong, mặt tái xanh chạy vọt đi luôn, chỉ dặn em phải trông nom chị, không được rời nửa bước – Cô đổi giọng an ủi – Chị đừng lo vội. Vạn tuế gia đã gật đầu đâu?

Nhược Hi thẫn thờ hồi lâu, nghĩ bụng không thể thế này được, sự việc không thể như thế được, bèn bảo Ngọc Đàn:

– Em kể lại tỉ mỉ chuyện hôm nay, thật ngọn ngành thật chi tiết cho tôi nghe, nhỏ nhặt như ánh mắt của Hoàng thượng cũng đừng bỏ qua.

Ngọc Đàn kể:

– Thấy Thái tử gia đến, chị Vân Hương bảo em dâng trà. Khi em bưng khay vào, Thái tử gia đang quỳ dưới sàn, bẩm với Hoàng thượng rằng: “Nhược Hi đã đến tuổi gả chồng từ lâu, tính tình lại hiền lành lễ phép, nhân phẩm dung mạo đều xuất chúng, vì vậy nhi thần bạo gan mong Hoàng a ma đứng ra ban nàng cho nhi thần lấy làm trắc phi.” Hoàng thượng trầm ngâm một lúc mới nói: “Nhược Hi theo hầu trẫm đã nhiều năm, luôn cúc cung tận tuỵ. Trẫm cũng biết nó đã đến thì, chỉ hiềm trẫm tuổi tác đã cao, rất cần người ý tứ chu đáo như thế ở bên. Ý riêng là vẫn muốn giữ nó lại một thời gian nữa xem nhà nào tử tế mới gả, lại ban cho hồi môn thật hậu để nó được rỡ ràng đi lấy chồng, không uổng công phục dịch trẫm. Hôm nay con hỏi, thật sự đột ngột quá, trẫm phải suy nghĩ đã…” Bấy giờ em dâng trà xong, chẳng còn cớ gì mà nấn ná nên đành lui ra. Bởi lòng quá kinh hoàng, sợ biểu hiện khác thường trên mặt sẽ khiến Hoàng thượng và Thái tử gia phát giác, em cứ cúi gằm đầu không dám ngẩng lên, không để ý được nét mặt của cả hai vị.”

Nhược Hi nghiền ngẫm kỹ càng. Tâm tư của thái tử, nàng đoán chỉ bắt nguồn từ ba nguyên nhân: một là Khang Hy, hai là người Mông Cổ, ba là Mã Nhi Thái tướng quân, trong đó nhân tố Mông Cổ hiển nhiên chiếm phần lớn. Mãn triều đều biết quan hệ giữa thái tử và người Mông Cổ không được êm thắm. Để củng cố địa vị của mình, Dận Nhưng luôn muốn cải thiện sự bất hoà đó.

Nhưng tâm tư Khang Hy ra sao, Nhược Hi tuyệt nhiên không dò đoán được. Nếu Khang Hy bằng lòng, nàng nên làm thế nào, chẳng lẽ phải lấy thái tử thật? Hay kháng chỉ? Rồi sắp sẵn ba thước lụa trắng như Tứ a ca từng nói?

Nàng biết kết cục của tất cả mọi người, chỉ không biết kết cục của mình. Phải chăng lấy thái tử chính là kết cục mà cao xanh an bài cho nàng? Nghĩ mãi, nghĩ mãi, không kìm được nỗi thương tâm, Nhược Hi gục người xuống sập khóc oà lên.

Buổi tối, Ngọc Đàn cố ý ở lại phòng Nhược Hi để chăm sóc nàng, Nhược Hi bèn yếu ớt bảo:

– Yên tâm về phòng đi! Em sợ nửa đêm tôi treo cổ tự tận à? Vạn tuế gia chưa gật đầu là mọi việc còn chưa đi vào ngõ cụt. Mà cứ cho là đến ngõ cụt, tôi cũng không cam chịu vâng lệnh đâu. Em cứ để tôi yên tĩnh một mình.

Thấy nàng đã nói đến thế, Ngọc Đàn đành quay về phòng.

Nhược Hi nằm trên giường ngẫm nghĩ, nước mắt lại đầm đìa tuôn xuống. Năm xưa, chứng kiến Thập a ca bắt buộc phải lấy Minh Ngọc, nàng vừa buồn vừa giận, bây giờ mới biết không chỉ buồn giận, mà còn tuyệt vọng đến thấu xương.

Nàng khoác áo trở dậy, chậm chạp bước ra gốc hoa quế, mường tượng bộ mặt ngày thường của thái tử, rồi hồi tưởng thái độ y khi trông thấy Mẫn Mẫn, lại cảm thấy ghê tởm vô cùng. Nàng ôm cây quế, áp mặt vào thân cây, nước mắt rơi lã chã. Nàng đã sai chăng? Cuối cùng, sự kiên trì của nàng lại làm hại chính bản thân nàng chăng? Lấy Tứ a ca, Bát a ca hay Thập a ca, tính ra đều hơn đứt lấy Thái tử!

Tứ a ca, Bát a ca và Thập tứ a ca đã từng nhắc nhở, nhưng Nhược Hi luôn giữ tâm lý cầu may, yên chí rằng vẫn còn vài năm nữa mà không biết rằng nàng tảng lờ thì khắc có người nhớ hộ, bây giờ hối hận cũng muộn rồi.

Cứ nghĩ lại khóc, trời đã sáng bạch tự lúc nào.

– Sao chị ăn mặc phong phanh thế này? – Ngọc Đàn đẩy cửa ra, vừa kinh hãi hỏi vừa chạy tới đỡ Nhược Hi. Mới chạm tay vào mình nàng, cô đã la lên – Trời ơi, sao lại nóng thế? Chị đứng ngoài trời bao lâu rồi hả?

Đầu óc quay cuồng, Nhược Hi để Ngọc Đàn dìu lên giường nằm ngay ngắn. Ngọc Đàn dém chăn cho nàng, dặn dò:

– Chị gắng chịu đựng thêm một lúc. Em đi nhờ Vương công công mời thái y.

oOo

Được Ngọc Đàn giúp uống thuốc xong, Nhược Hi lại mê man lịm đi. Bảo là mê man, nhưng trong nhà động tĩnh thế nào nàng đều cảm nhận được hết. Bảo là tỉnh táo, thì mí mắt lại cứ nặng trĩu, không sao hé nổi ra.

Chẳng biết nằm đấy bao lâu, đến một lúc Nhược Hi thấy họng đau đến rát bỏng, muốn gọi nước uống nhưng há miệng hoài không thốt nên lời. Mang máng thấy Ngọc Đàn ngồi bên cạnh mà tay chân bải hoải không đánh động được cô, nàng chỉ biết nhăn mày khổ sở.

– Muốn uống nước à? – Giọng một người đàn ông. Người ấy nói rồi ôm Nhược Hi dậy, đưa nước tới miệng, để nàng hớp từ từ. Nhược Hi uống xong, người nọ lại đỡ nàng nằm xuống, cúi đầu nói bên tai nàng – Hoàng a ma vẫn chưa giáng chỉ, xem chừng có hi vọng.

Bấy giờ Nhược Hi mới nhận ra là tiếng của Tứ a ca, lòng chua xót, lệ theo khoé mắt chứa chan. Tứ a ca đưa tay quệt nước mắt cho nàng:

– Đừng nghĩ ngợi lung tung, dồn sức dưỡng bệnh theo lời thái y đi đã. Ta vừa sai người dụ Ngọc Đàn đi chỗ khác, nhưng chắc cũng sắp quay về rồi, ta không tiện ở lại lâu nữa.

Nói rồi định đi.

Không biết lấy đâu ra sức lực, Nhược Hi bỗng vươn tay níu chặt tay áo Tứ a ca. Có lẽ vì biết chàng là Ung Chính, là hoàng đế tương lai, nàng tự nhiên tin chắc rằng nếu trên đời có người cứu được mình, thì chính là chàng chứ không ai khác cả.

Tứ a ca bất đắc dĩ trở mình ngồi lại, cúi xuống chăm chú nhìn nàng. Nhược Hi không thốt nên lời, cứ ròng ròng nước mắt. Tứ a ca lạnh lùng nói:

– Cái cô này! Lúc trước khuyên nhủ đủ điều, cô không thèm nghe lấy một câu. Bây giờ sự đã rồi, kéo tay áo ta thì có tác dụng gì chứ?

Nhược Hi choàng tỉnh. Tương lai chàng mới là hoàng đế, bây giờ thì chưa. Nói đi lại nói lại, cho dù chàng có cách, thì tội vạ gì mà phải làm mếch lòng thái tử? Nàng buông tay áo chàng, khép mi lại, lệ nóng tràn trề hai bên khoé mắt.

Tứ a ca cúi lau nước mắt cho Nhược Hi, giọng trầm trầm bên tai nàng:

– Bây giờ ta khó lòng hứa hẹn bất cứ điều gì, vì ta cũng chưa biết mình có cách giải quyết hay không. Tuy người đến xin lấy cô là Thái tử gia thật, nhưng ta sẽ không bỏ mặc cô đâu – Nói đoạn, chàng dém chăn tử tế cho nàng rồi rời đi.

Buổi tối, Nhược Hi uống xong bốn thang thuốc, Ngọc Đàn lại đắp thêm chăn để nàng ra mồ hôi. Sang hôm sau, đầu vẫn nặng như chì nhưng cơn sốt đã thuyên giảm, người cũng tỉnh táo hơn nhiều.

Cả ngày hôm qua chưa ăn cơm, trưa hôm nay, Ngọc Đàn bưng cháo hoa về bón cho Nhược Hi. Xong xuôi, cô lại giúp nàng súc miệng, lau mặt cho nàng rồi mới thu dọn hộp cơm đi ra.

Nhược Hi mở to mắt, nhìn lên đỉnh màn ngẫm nghĩ. Nếu Khang Hy bằng lòng tứ hôn, nàng phải làm gì mới khiến ông không ban nàng cho thái tử? Năm tới thái tử sẽ bị phế truất, chỉ cần nàng trì hoãn được đến lúc ấy, Khang Hy ắt không tứ hôn nữa. Nhưng nếu Khang Hy nhất quyết, nàng kéo dài thời gian bằng cách nào đây?

Đang nghĩ ngợi, chợt nghe tiếng đẩy cửa, tưởng Ngọc Đàn về, Nhược Hi cũng không để ý, vẫn nằm trầm tư mặc tưởng.

– Trông khả quan hơn hôm qua đấy!

Giọng đàn ông. Nhược Hi vội ngoảnh mặt ra. Thập tứ a ca đứng bên mép giường, lom lom nhìn nàng. Nhược Hi nhỏm dậy, gã vội ngăn lại:

– Cứ nằm yên, không cần đa lễ!

Nói rồi tiện tay nhấc cái ghế đẩu đến ngồi bên giường. Im lặng một lát, gã chợt chồm vào giường, ghé tai Nhược Hi thì thào:

– Biết tại sao Thái tử gia muốn cưới cô không? Tô Hoàn Qua Nhĩ Giai vương gia xin Hoàng a ma tứ hôn cho Tá Ưng và Mẫn Mẫn. Hôm nay tấu chương mới đến. Tin tức của Thái tử gia nhanh nhạy thật – Gã hừ khẽ – Uẩn khúc bên trong, bữa khác ta sẽ nói rõ với cô. Giờ chỉ muốn hỏi, cô có sẵn lòng về với Thái tử gia không?

Nhược Hi lắc đầu. Thập tứ a ca nói:

– Bát ca không tiện đến thăm cô, nên nhờ ta chuyển lời rằng anh ấy sẽ nghĩ cách để Hoàng a ma cân nhắc thêm vài ngày. Chừng mười ngày thôi, tình hình sẽ có biến chuyển.

Nhược Hi mừng rỡ, cứ chòng chọc nhìn Thập tứ a ca. Gã gật đầu quả quyết, Nhược Hi nghẹn ngào nói:

– Đa tạ!

Thập tứ a ca sửng sốt:

– Họng rát đến thế à? Nghe khàn khàn như vịt đực vậy!

Nhược Hi nhành môi định cười, nhưng lòng quá đỗi đắng cay, cuối cùng chỉ đủ sức lẳng lặng nhìn Thập tứ a ca. Thập tứ thở dài tiếc rẻ:

– Lúc trước khuyên cô định sẵn đường đi nước bước, cô không nghe. Giờ đến tình cảnh này mới biết hối hận. Lấy Bát ca chẳng tốt hơn lấy Thái tử gia hàng ngàn lần ư?

Nhược Hi lại rơm rớm nước mắt, Thập tứ a ca vội ngừng lời:

– Chịu khó dưỡng bệnh, đừng bận tâm gì cả. Ta về đây, chắc mấy hôm tới không sang thăm được đâu, phải tự chăm sóc bản thân nhé!

Gã vừa đi khỏi thì Ngọc Đàn bưng một bát lê ngào đường vào. Nhược Hi hỏi:

– Em không đi làm à?

Ngọc Đàn đáp:

– Lý an đạt biết chị bị bệnh, bèn cho em ở nhà chăm sóc – Nói đoạn định bón nước đường cho nàng.

– Không uống đâu.

Ngọc Đàn dỗ dành:

– Chị uống một chút thôi, mát họng lắm đấy.

Nhược Hi lắc đầu, ra dấu bảo mang đi. Ngọc Đàn khuyên dỗ mãi, thấy nàng cứ bướng bỉnh, đành đặt sang một bên.

oOo

Tình hình biến chuyển kia là gì nhỉ? Thập tứ a ca chỉ nói biến chuyển, tức là chưa nhất định thế nào, song chí ít cũng hứa hẹn đường ra. Trì hoãn dăm ba ngày không phải việc khó. Dẫu muốn ban bố hôn nhân, Khang Hy cũng không thể giáng chỉ giữa lúc nàng đau ốm, bắt nàng mang bệnh gượng dậy nhận lệnh được. Nghĩ như vậy, lòng cũng yên ổn đi ít nhiều.

Nhược Hi đang suy tư thì Ngọc Đàn bưng thuốc vào, đặt trên bàn rồi đỡ nàng ngồi dậy. Nhược Hi kéo tay cô, ra hiệu bảo ngồi xuống bên cạnh:

– Tôi không thể uống thuốc được.

Ngọc Đàn kinh ngạc nhìn trả, Nhược Hi khe khẽ tiếp:

– Mấy năm nay, tôi coi em như ruột thịt, nên cũng không giấu em làm gì. Tôi không muốn lấy Thái tử gia, song hiện thời không có cách nào khác ngoài mượn cớ ốm đau mà trì hoãn. Hiềm nỗi, bệnh tật thì không thể làm giả được, Lý an đạt hỏi thái y là sẽ biết ngay. Vì vậy em cứ nghe lời họ mang thuốc về như thường, rồi kín đáo đổ đi giúp tôi.

Ngọc Đàn cắn môi, nhìn Nhược Hi hồi lâu, cuối cùng gật đầu. Nhược Hi mỉm cười nắm tay cô. Ngọc Đàn quay phắt đầu đi gạt lệ, hai vai run run, lẩm bẩm bằng giọng nhỏ tới mức gần như không nghe được:

– Vì sao lại thế? Đến người như chị…

Ừ! Còn Ngọc Đàn thì số mệnh sẽ ra sao? Lúc xuất cung cũng đã quá tuổi gả chồng, với thân thế thiếu chỗ dựa gia đình của cô, nếu không lấy chồng, chỉ còn nước sống cùng anh em cả đời, khổ sở biết nhường nào! Nếu lấy chồng, lại sợ khó lòng tìm được người tử tế. Một cô gái ý tứ lanh lợi thông minh thế này mà sinh ra ở thời hiện đại, miễn là cố sức gắng công, sợ gì chẳng có tiền đồ. Nhưng bây giờ, Nhược Hi chỉ nhìn thấy ở cô một tương lai tăm tối. Xương thịt của con gái đều là nước kết thành, đó là bởi trong xã hội này, ngoài tam tòng “tòng phụ, tòng phu, tòng tử” ra, không còn con đường nào cho phụ nữ nữa. Ở xã hội nam quyền, sự kiên cường của cá nhân chỉ như châu chấu đá xe, làm sao phụ nữ không rơi lệ cho được?

Cả ngày hôm qua không uống thuốc, nhưng hôm nay Nhược Hi lại thấy khoẻ khoắn hơn đôi chút. Áng chừng là do hằng ngày nàng hay nhảy dây trong sân, còn thường xuyên tập ngả xuống ngồi lên trước khi đi ngủ. Lúc ấy chỉ nghĩ khoẻ mạnh là quan trọng nhất, một thân một mình trong cung, ngộ nhỡ mắc bệnh thì chỉ khổ bản thân. Cứ xem Hồng lâu mộng đủ biết y học thời xưa vô cùng lạc hậu, cảm hàn vặt vãnh mà bất cứ lúc nào cũng có thể chuyển thành bệnh lao ác tính được ngay, bởi vậy nàng luôn quý trọng sức khoẻ. Nhưng bây giờ nàng bắt đầu hối hận, nhất là sau khi thái y chẩn mạch xong, cười nói “Thư thả bốn năm hôm nữa, chú ý điều dưỡng là khỏi hẳn”, Nhược Hi đau khổ vô cùng mà ngoài mặt vẫn phải giả vờ như cái tin đó làm mình mừng lắm.

Ngọc Đàn bưng thuốc đi. Nhược Hi đang ngồi thừ người trên sập, nghe tiếng gõ cửa bèn bảo:

– Cứ vào!

Người đẩy cửa bước vào là Tiểu Thuận Tử. Hắn rảo chân tới bên sập, vừa khoát tay chào vừa khẽ bảo:

– Tứ gia sai tôi chuyển cho cô nương một chữ: Khoan!

Dứt lời quay mình chạy biến.

Nhược Hi nghĩ ngợi hồi lâu, lòng đã đi đến quyết định.

Buổi tối, nàng lựa lời hối Ngọc Đàn về phòng nghỉ xong, ước chừng cô đã ngủ say, liền vớ áo khoác mở cửa ra sân đứng. Cuối tháng Chín, Bắc Kinh về khuya trời đã se se. Nhược Hi đứng trong gió một lúc, sực nghĩ lần trước nghe tin dữ đột ngột nên đau lòng, trúng gió cảm lạnh, cuối cùng lên cơn sốt, có thể đa phần đều do yếu tố tâm lý. Lần này chuẩn bị sẵn sàng, chỉ hứng gió suông e rằng vô tác dụng.

Nàng bèn trở vào nhà lấy chậu rửa mặt, múc đầy nước lạnh, nâng chậu lên đổ từ đỉnh đầu xuống khiến toàn thân ướt sũng những nước. Rồi nàng ra đứng đầu gió, bắt mình dang hai tay, nhắm mắt cắn chặt răng, người run lập cập.

– Chị ơi! Sao chị lại giày vò bản thân như thế? – Ngọc Đàn lao ra, vừa gọi vừa kéo Nhược Hi vào nhà.

Nhược Hi xô mạnh cô:

– Mặc kệ tôi! Em đi ngủ đi!

Ngọc Đàn cứ gắng sức kéo. Nhược Hi bèn bảo:

– Em tưởng tôi muốn hành hạ bản thân lắm sao? Nhưng đây là cách duy nhất tôi nghĩ ra được lúc này để tự cứu mình. Em còn ngăn cản mới là hại tôi, uổng công tôi ngày thường coi em là tri kỷ.

Ngọc Đàn lỏng tay, nhìn Nhược Hi, nước mắt lặng lẽ tuôn rơi. Nhược Hi không để ý đến cô, quay đi tự dội tiếp một chậu nước. Đứng nơi lộng gió suốt một đêm, trời chưa sáng hẳn, nàng đã lại lên cơn sốt, đầu nặng bề bề.

Ngọc Đàn vực nàng vào nhà, lau khô tóc, thay quần áo cho rồi đắp chăn thật kín. Nhược Hi luôn miệng dặn:

– Đừng mời thái y vội, đợi tóc khô hẳn, người sốt cao rồi hẵng gọi.

Lòng trùng trùng tâm sự, lại thêm nhiều ngày chưa tĩnh dưỡng tử tế, Nhược Hi chỉ gắng gượng tỉnh táo được một lúc rồi mê man thiếp đi.

Chuyến này ốm đau là bệnh dồn lên bệnh, thời buổi chưa có thuốc giảm sốt, Nhược Hi li bì liền ba bốn ngày mới lơ mơ tỉnh, tiếp tục điều dưỡng bốn năm ngày nữa mới từ từ hồi phục. Tuy chưa khoẻ hẳn, nhưng không cần thiết phải để Ngọc Đàn phục dịch cả ngày, lại vẫn canh cánh vụ chuyển biến và thái độ của Khang Hy, nàng bèn giục Ngọc Đàn đi làm trở lại và dặn lưu tâm mọi điều. Ngọc Đàn nhất nhất vâng lời, tỏ ý hiểu cả.

Thấm thoắt đã sang tháng Mười, tình hình vẫn yên ắng. Ngọc Đàn chỉ kể với Nhược Hi rằng Lý Đức Toàn có hỏi thăm bệnh tình của nàng và dặn cô chú ý chăm sóc nàng, trong lúc hỏi chuyện vẻ mặt vẫn điềm tĩnh như thường. Nhược Hi thấp thỏm không yên, nàng đổ bệnh đột ngột, dữ dội, lại trùng hợp như thế, liệu Khang Hy sẽ nghĩ thế nào?

Từ bữa Thập tứ a ca đến thăm tới nay đã được mười lăm ngày, vẫn không thấy mảy may động tĩnh. Một hôm, Nhược Hi đang ngồi rầu rĩ trong phòng thì Ngọc Đàn hấp tấp chạy vào, đóng kín các cửa rồi lại ngồi sát nàng, khẽ khàng kể:

– Nghe nói trên triều hôm nay, Trấn quốc công Cảnh Hy nhắc lại chuyện cũ, khẩn thiết xin Vạn tuế gia tra xét cha con Thống lĩnh Bộ binh Thác Hợp Tề, từ vụ mở tiệc khoản đãi hết thảy đại thần trong triều giữa thời kỳ chịu tang Đa la An quận vương Mã Nhĩ Hồn đến vụ tham ô ngân khoản bất hợp pháp.

Nhược Hi nghiền ngẫm thông tin. Cảnh Hy là con trai An thân vương Nhạc Lạc, cậu của Bát phúc tấn, cùng ở Chính Lam kỳ với Bát a ca, nhất định là người ủng hộ chàng. Còn thống lĩnh bộ binh Thác Hợp Tề là người bên phe thái tử. Xem ra thái tử gặp chuyện rầy rà rồi. Tình hình biến chuyển là vụ này đây sao?

– Có nghe ngóng được Vạn tuế gia nói gì không?

Ngọc Đàn đáp:

– Theo tấu chương, có dấu hiệu cho thấy phải đến mười lăm hai mươi người rủ rê nhau yến ẩm. Ngoài đám đại nhân như Thống lĩnh Bộ binh Thác Hợp Tề, Đô thống Ngạc Thiện, Hình bộ Thượng thư Tề Thế Vũ, Binh bộ Thượng thư Cảnh Ngạch, còn rất đông võ quan như các Đô thống, Phó Đô thống trong Bát kỳ. Vạn tuế gia đặt nặng vụ này lắm, người hạ lệnh cho Tam vương gia phụ trách điều tra, nếu quả như Trấn quốc công trình tấu thì sẽ giao cho bộ Hình thẩm định rõ sự việc.

Đương nhiên là phải thẩm định rõ rồi! Từ khi phục tước cho thái tử, Khang Hy luôn lo lắng Dận Nhưng ập vào cung bức mình thoái vị. Nhóm phè phỡn yến ẩm lần này đa phần là võ quan, nắm giữ quyền lực nhất định về quân sự, đặc biệt là chức thống lĩnh Bộ binh, hàm nhất phẩm, tương đương tư lệnh giữ gìn trị an cho kinh thành, chịu trách nhiệm trực tiếp về sự an nguy của hoàng đế. Đời nào Khang Hy yên tâm để bọn họ ngấm ngầm kết bè kết phái? Hễ moi ra bất cứ luồng dư luận nào bất lợi cho Dận Nhưng, thì phế truất y chỉ còn là vấn đề sớm muộn. Bát a ca chọn chính việc này để gây khó dễ cho thái tử, xem ra không phải là đòn hú hoạ vu vơ.

Nghĩ đến đây, Nhược Hi không kìm được một nụ cười. Thanh kiếm treo lơ lửng trên đỉnh đầu nàng đang tạm thời dịch ra xa. Điều Khang Hy vẫn ngờ vực về thái tử sắp trở thành sự thực, đương nhiên không có chuyện ông đem nàng gả cho y nữa. Nàng đang có liên hệ với hai bộ tộc vinh hiển của Mông Cổ, như suy nghĩ của họ, đời nào Khang Hy lại lãng phí một tài nguyên như nàng vào Dận Nhưng chứ?

Nhược Hi những tưởng trận chiến dẫn đến việc phế thái tử lần hai phải sang năm mới diễn ra, không ngờ lại từ trong tối chuyển sang ngoài sáng ngay từ bây giờ. Chắc hẳn Bát a ca đã bài binh bố trận ổn thoả, chỉ đợi thời cơ mà thôi, bằng không khó lòng vừa ra tay đã đánh trúng ngay chỗ hiểm như vậy. Tứ a ca phái người đến dặn nàng kéo dài thời gian, chứng tỏ chàng cũng biết sẽ có ngày này trên triều, nói không chừng chính chàng đang hợp sức với Bát a ca để lật thái tử.

Chỉ hiềm, Nhược Hi sắm vai gì trong màn kịch? Chắc hẳn là chất xúc tác. Vắng nàng, vụ phế bỏ sớm muộn vẫn xảy ra, nhưng vì nàng liên quan đến người Mông Cổ, liên quan tới thái độ Khang Hy, nên ở một mức độ nào đó, có lẽ sự việc phát sinh sớm hơn dự định của họ.

Không có sách sử trong tay, Nhược Hi không rõ các sự kiện có phát triển như lịch sử mà nàng biết không. Lòng đầy nghi hoặc: phải chăng vì nàng mà lịch sử thành ra như vậy? Hay vì lịch sử như vậy mà mới nảy ra vấn đề của nàng?

Nụ cười chưa phai, song đã nhuốm dần chua xót. Nàng ra sức tránh né, không ngờ lại rơi ngay vào tâm bão. Trước đây nàng luôn đứng ở vị trí người quan sát, nhìn mọi người tiến đến kết cục của họ, bây giờ chính nàng cũng bị cuốn vào màn kịch, tương lai nên đi đứng thế nào đây? Mai sau, không phải tránh phạm sai lầm thì sẽ bình an vô sự nữa, có khi bất động, bão bùng cũng không buông tha nàng, biết đâu còn kém may mắn hơn hẳn lần này. Xem chừng đã đến lúc phải tính cách giữ an toàn cho bản thân rồi!

 

Đọc tiếp Bộ bộ kinh tâm – chương 43

Truyện liên quan đến Bộ bộ kinh tâm:

Hãy quay trở lại trang chủ truyentrungquoc.com tìm đọc nhiều ngôn tình hay hơn các bạn nhé!

Hương mật tựa khói sương – Chương 6.1

Hương mật tựa khói sương – Chương 6.1

Ta đang chuẩn bị theo đường cũ trở về, khóe mắt lại thấy một mảnh hào quang bảy sắc, vô cùng tươi đẹp. Ta định thần nhìn kĩ, chính là Phượng Hoàng kia không biết từ lúc nào đã bay từ trên trời xuống đứng ngay trước cổng nhà.

Ta nhìn ngó bốn bề, ngôi mộ của Hoa Thần tiền nhiệm lão nhân gia vẫn giữ vẻ thanh thoát như xưa. Trong trăm năm ta rời khỏi Hoa Giới, sao không thấy nở thêm vài đóa hoa trên mộ để trang điểm. Nhớ khi ta còn nhỏ, sống trong Thủy Kính mỗi năm trông chờ nhất chính là tiết Sương giáng, vì ngày này là ngày giỗ của Hoa Thần. Mỗi năm đến tiết Sương giáng, Trưởng phương chủ sẽ mở Thủy Kính, thả cho một lũ tiểu tiên tiểu tinh chúng ta ra khỏi kết giới, đi tới trước mộ của Hoa Thần tiền nhiệm để cúng tế, kính cẩn làm tròn đạo hiếu của tiểu bối. Tuy là từ Thủy Kính tới ngôi mộ, chẳng qua bay đi chỉ mất thời gian một nén hương, nhưng đối với những tinh linh chúng ta cả năm bị giam lỏng trong Thủy Kính mà nói, mức độ quý giá tuyệt đối không kém gì Tết Nguyên đán của phàm nhân. Tuy là ngoài mặt phải học theo hai mươi tư vị Phương chủ làm ra vẻ đau khổ xót thương, nhưng trong lòng lại vui sướng vô cùng.
Lúc đó ta quỳ ở trước mộ bấm ngón tay tính toán, ngay tiết Hạ chí còn chưa tới, cách tiết Sương giáng quá xa, tiết Thanh minh hình như đã sớm qua.
“Tiên chúa hồn ly thiên ngoại có biết, hôm nay trước mộ, ta hỏi ngươi đáp, không được có nửa phần giả dối!” Trưởng phương chủ từ trên cao trông xuống trầm giọng cất lời.
Ta nhìn sắc mặt của Trưởng phương chủ, hai tay theo đúng quy pháp hợp thành hình chữ thập vái ba vái trước mộ, làm ra vẻ rất thành khẩn.
“Cây trâm trên đầu ngươi đâu?”
“Làm mất rồi.” Sao mọi người ai cũng quan tâm tới cây Tỏa Linh trâm này thế nhỉ?
“Trừ Hỏa Thần ra, còn có bao nhiêu người đã thấy dung mạo của ngươi?”
“Còn có Nguyệt Hạ tiên nhân, Liễu Thính, Phi Tự, Dạ Thần, Lão Hồ, Kế Đô tinh quân…”, ta đang bấm ngón tay cố sức nhớ lại, trong mắt Trưởng phương chủ sát khí nổi lên phừng phừng, khiến ta toàn thân run rẩy, không dám tiếp tục nói.
“Có phải Hỏa Thần đưa ngươi rời khỏi Thủy Kính không?” Ánh mắt Trưởng phương chủ như cây roi theo sát không rời.
“Đúng vậy.” Ta sợ hãi trả lời.
“Ngươi rời khỏi Thủy Kính trong trăm năm đều sống trong Tê Ngô cung ở Thiên Giới phải không?”
“Đúng vậy.”
“Hỏa Thần bị trúng độc của ôn trâm, là ngươi trồng Linh chi tiên thảo để cứu mạng hắn phải không?”
“Đúng thế.”
“Cuối cùng, ta hỏi ngươi…”, Trưởng phương chủ cắn chặt răng, giống như phải hạ quyết tâm mới mở miệng nói: “Ngươi đã nảy sinh tình cảm nam nữ với Hỏa Thần phải không?”.
“Đúng vậy.” Thực ra là do trước đó ta đã trả lời quen miệng rồi, ta nghĩ mãi cũng không ra liền buột miệng trả lời.
“Tạo nghiệt! Đây chính là tạo nghiệt!” Trưởng phương chủ tâm thần đau đớn, hai mắt nhắm nghiền. “Tiên chúa! Mẫu Đơn bất tài, hổ thẹn với ủy thác của người! Hôm nay nguyện tự hủy một nửa tiên nguyên để tạ tội!”. Lúc nói, liền trịnh trọng quỳ phịch xuống trước mộ, giơ tay lên muốn đâm vào ấn đường.
“Không phải, không phải, hoàn toàn không phải!” Ta vội vã cải chính, vì sao mấy người này nghe thấy ta và Phượng Hoàng có chút quan hệ thì đều kích động như vậy nhỉ? Lão Hồ như vậy, Trưởng phương chủ lần này cũng như vậy, một nửa tiên nguyên ư, Trưởng phương chủ xuống tay cũng quá xa xỉ, lãng phí rồi.
Trưởng phương chủ nghe vậy liền thu tay lại, mắt sáng như đuốc nhìn ta chằm chằm: “Căn cứ sự thực trả lời ta, lời đó có thực không?”.
Thấy nàng chú trọng câu trả lời như vậy, ta không khỏi cân nhắc kĩ càng một phen. Chỉ là như thế nào mới là có tình cảm nam nữ với Phượng Hoàng nhỉ?
Ta nhớ lại tinh túy sách tình ái mà Hồ Ly tiên một lần nói cho ta nghe, tổng kết lại, nói chung không quá tám chữ lớn “điên loan đảo phượng, cầu sống đòi chết”. Phượng Hoàng tuy dạy ta một ít phép tu luyện, nhưng chưa từng cùng ta luyện cái thuật song tu kia, do đó “điên loan đảo phượng” có thể vứt đi rồi, còn bảo ta vì tên Phượng Hoàng kia mà đi “cầu sống đòi chết”, thì càng vượt quá phạm vi tưởng tượng của ta.
Cho nên, ta gật gật đầu với Trưởng phương chủ, nói: “Thật ạ”.
Trưởng phương chủ quan sát khuôn mặt ta kĩ lưỡng hồi lâu: “Thế vì sao ngươi lại cứu mạng hắn? Trước khi đi nói lời từ biệt với hắn có vẻ hẹn hò như vậy?!”.
Có sao? Ta chớp chớp mắt: “Hắn đồng ý dùng ba trăm năm tu vi đổi lấy một cây Linh chi tiên thảo của ta, hiện giờ còn thiếu nợ”.
Trưởng phương chủ cả người loạng choạng, nhắm mắt bình tĩnh hồi lâu, mở miệng nói: “Chỉ là vì tu vi thôi sao?”. Tiếp đó vui vẻ thở dài một cái, lẩm bẩm: “Thôi bỏ đi, là ta nhất thời hồ đồ đánh giá ngươi quá cao…”.
Thấy lão nhân gia nàng hết giận, ta liền xoa xoa đầu gối chuẩn bị đứng dậy, nào ngờ nàng lại đột nhiên quắc mắt nhìn ta nghiêm nghị: “Ngươi phải nhớ kĩ, Thiên Giới và Hoa Giới ta có mối thù không đội trời chung! Hôm nay trước mộ, trước mặt tiên chúa, ngươi hãy lập lời thề, từ nay về sau không được có nửa phần quan hệ với Thiên Giới !”.
Ta ngoan ngoãn giơ tay phải lên, hai ngón tay đặt ở ấn đường: “Ta Cẩm Mịch lập lời thề ở đây, cả đời này không có bất kì quan hệ gì với người Thiên Giới! Nếu làm trái lời thề này, thì linh lực hủy hết, cả đời không thành tiên đạo, kiếp sau bị biến làm phàm nhân ở hạ giới, kiếp sau nữa làm một củ cà rốt bị thỏ gặm…”.
“Được rồi, được rồi, hôm nay thì như thế đi.” Trưởng phương chủ cảm thấy biểu hiện của ta rất đáng khen, lập lời thề cũng đủ ác độc, coi như vừa lòng đích thân giơ tay đỡ ta dậy.
Ta rụt rè mừng thầm, lão nhân gia quả nhiên dễ bị phỉnh phờ. Người Thiên Giới, ha ha, đã là Thiên Giới thì người chui từ đâu ra?
Chuyện lần này thực rất lớn, sau khi Trưởng phương chủ đích thân đưa ta về Thủy Kính, hai mươi ba vị phương chủ còn lại đều lần lượt tới thăm ta. Các tinh linh trong Thủy Kính cũng rất vui sướng chen chúc trước cửa nhà ta xem náo nhiệt, trừ Liên Kiều, nghe nói do báo nhầm chuyện gì đó nên bị Trưởng phương chủ trách phạt phải bón phân trồng rau ở thửa ruộng nước sát vách, còn có lão Hồ la oai oái đóng cửa nói bị ta lừa dối quá thương tâm nên không muốn gặp ta nữa.
Có điều, Thiên Giới rút cục sao lại động tới Hoa Giới? Để tới mức các vị phương chủ hễ nhắc tới Thiên Giới là mặt đầy khinh bỉ, mắt tràn cừu hận, luôn chân thành dặn dò ta không được có quan hệ gì với thiên gia, nhưng lại không chịu cho ta biết nguyên do, mặc ta hiếu kì đến mức ruột gan rối bời.
Sau khi các phương chủ đi rồi, Trưởng phương chủ liền dán ba tấm linh phù “chát chát chát” lên cửa nhà ta, nói ta chịu khó bế quan suy nghĩ về lỗi lầm của mình.

Phượng Hoàng tuy ngày thường đối với ta cũng chẳng phải thân thiết, nhưng cũng có thể coi là một vị thần tiên giữ chữ tín, hôm trước hắn đã sảng khoái nhận lời với ta sẽ đến Hoa Giới, hôm nay chắc nhất định sẽ đến. Thần lực của Phượng Hoàng ta vốn rất hâm mộ, ba tấm bùa trên cửa đối với hắn mà nói cũng chả khác gì gỡ câu đối cả.
Cho nên, ta dậy rất sớm, sau khi tắm rửa, liền trông chờ Phượng Hoàng tới gỡ bùa chú, thả ta ra ngoài. Sau khi ta giẫm lên cái giá bằng bồ đào, bám lên đầu tường nhìn ra cửa ba lần, nhìn thấy trên trời có một đám mây lành, hai đám mây lành, ba đám mây lành…
Đếm đến đám thứ hai mươi tư, ta rụt cổ xuống, chuẩn bị từ đâu nhảy lên thì nhảy xuống đó. Hai mươi bốn vị phương chủ dáng thướt tha đạp hoa bay tới.
Ta đang chuẩn bị theo đường cũ trở về, khóe mắt lại thấy một mảnh hào quang bảy sắc, vô cùng tươi đẹp. Ta định thần nhìn kĩ, chính là Phượng Hoàng kia không biết từ lúc nào đã bay từ trên trời xuống đứng ngay trước Thủy Kính. Hắn hôm nay mặc một chiếc trường bào tay rộng màu đỏ, có thêu hoa văn phượng hoàng màu vàng kim, vạt áo chấm đất, hắn đứng nổi bật như vậy trước cửa, cả Thủy Kính đều được chiếu rọi rực rỡ thêm vài phần.
Nhưng hai mươi tư vị phương chủ bị hắn làm cho chói lóa như vậy, sắc mặt lại âm trầm đi rất nhiều, lũ lượt giẫm chân hạ hoa xuống, đứng ở trước mặt Phượng Hoàng. Phượng Hoàng lịch sự chắp tay: “Tiểu thần Húc Phượng tham kiến các vị phương chủ”.
Trưởng phương chủ liếc hắn: “Hỏa Thần không ngại nghìn dặm xa xôi nhiều lần xông vào cấm địa của Hoa Giới ta, không biết là vì chuyện gì?”.
“Tiểu thần lần này tới cửa là vì Cẩm Mịch tiên tử.” Khóe mắt Phượng Hoàng mang theo ý cười, còn có phần cây ngay không sợ chết đứng. “Húc Phượng nhận lời với Cẩm Mịch từ hôm trước, đã nói thì phải làm, huống hồ nàng còn là ý trung nhân của tiểu thần, dẫu là núi đao biển lửa cũng phải xông vào, còn xin các vị phương chủ trâm chước một hai.”
Ý trung nhân? Nếu dựa theo cách nói của Hồ Ly tiên: “Mấy chữ ý trung nhân lão phu cho là thật mê hồn tuyệt diệu”. Phượng Hoàng lại muốn cùng ta tu luyện thuật song tu kia ư? Ta chống cằm ngẫm nghĩ một lát, ừm, thực ra cũng không phải là không thể, chỉ cần tăng thêm linh lực là được.
“Hoang đường!” Đinh Hương phương chủ nghiến răng nghiến lợi tiếp lời, tức giận đến nỗi toàn thân phát run. “Thực là tạo nghiệt! Trời đất mênh mông, nữ tử đâu chỉ có nghìn vạn người, thiên gia ngươi sao cứ không chịu tha cho Hoa Giới ta? Huống hồ Cẩm Mịch… Hỏa Thần đừng mơ hão nữa.”
“Huống hồ Cẩm Mịch?” Phượng Hoàng nhíu nhíu mày, khóe miệng có vẻ suy ngẫm: “Tiểu thần chỉ biết Cẩm Mịch là một quả tinh đã tu luyện mấy nghìn năm, nghe Đinh Hương phương chủ nói như vậy, xin chỉ giáo sao lại nói Cẩm Mịch là huống hồ…?”.
Đinh Hương phương chủ im lặng, thái độ có chút ảo não.
Trưởng phương chủ ngước mắt khẽ liếc thấy ta đang bò trên đầu tường. “Chuyện trong thiên hạ, không phải nguyên do thế nào Hỏa Thần cũng có thể truy cứu. Hôm nay tiểu tiên thành tâm khuyên Nhị điện hạ một câu, đừng bị nhan sắc của Cẩm Mịch mê hoặc, cuối cùng rơi vào cảnh tan vỡ giấc mộng Hoàng Lương(1), trong lòng đau đớn.”
Phượng Hoàng vung tay lên, lắc lắc đầu, nói: “Tiểu thần lẽ nào lại là loại người nông cạn mê muội sắc đẹp. Húc Phượng yêu thương Cẩm Mịch, chính là vì thích bản tính trong sáng của cô ấy, chẳng có liên quan gì tới tướng mạo của cô ấy cả”.
Đinh Hương phương chủ cười mỉa một tiếng: “Người thiên gia đều là kẻ bạc tình, ngươi có biết mấy vạn năm trước có một vị thần tiên cũng nói những lời y hệt như ngươi không? Kết quả thì như thế nào? Cái gọi là mãi mãi tình thân, tỉnh mộng chẳng qua chỉ là một chuyện lừa dối ghê tởm thôi”.
Phượng Hoàng cau cau mày: “Tiểu thần không biết hai giới vì sao xưa lại kết mối oán thù ngàn vạn năm, bất luận quá khứ như thế nào, đều là chuyện đã qua, nếu kết oán đời đời kiếp kiếp thì không phải là dở sao. Cho nên vẫn xin hai mươi tư vị phương chủ nói rõ nguyên do cho tiểu thần biết, có khi là hiểu lầm cũng không chừng”.
“Hỏa Thần mất công xông vào Hoa Giới chúng ta, không bằng đi hỏi vị Thiên Đế bệ hạ cao cao tại thượng kia.” Ngọc Lan phương chủ lạnh lùng xen vào.
Trưởng phương chủ vung tay ngăn Ngọc Lan phương chủ lại: “Chúng ta đã nói hết lời, chỉ có một câu: Nữ tử trong thiên hạ đều được, chỉ có Cẩm Mịch là muôn vàn lần không được!”.
“Chỉ có Cẩm Mịch là muôn vàn lần không được sao?” Phượng Hoàng nghe vậy cúi đầu trầm tư một lúc, bỗng chốc giật mình biến sắc, “Thiên Đế… Hoa Thần quá cố… Cẩm Mịch chẳng lẽ là… ”.
“Nhiều lời vô ích, lão Hồ, tiễn khách!” Trưởng phương chủ phất tay áo xoay người.
Lão Hồ ngồi ở góc tường bên cạnh nhà ta lắng nghe hồi lâu bị Trưởng phương chủ chỉ tên tóm ra, sờ sờ đầu cười gượng hắc hắc rồi di chuyển thân hình tròn vo, quay đầu làm ra vẻ mặt nghiêm túc giơ tay nói với Phượng Hoàng: “Hỏa Thần điện hạ, mời!”.
“Ôi!” Ta bò trên đầu tường nghe họ phỏng đoán đúng sai như làm ám hiệu anh một câu tôi một câu, nói khiến cho ta đầu óc mơ hồ, vậy sao có thể nói đi là đi được? Ta còn đang bị nhốt. Cho nên vội vàng mở miệng gọi Phượng Hoàng, nào ngờ hắn xiêu hồn lạc phách như không nghe thấy gì xoay người đi. Ta lúc đó mới chú ý đến chướng nhãn pháp Trưởng phương chủ đã bày ra ở ngoài cửa, trừ người làm phép, những người khác đều không thấy được ta.
Trưởng phương chủ dường như nghe thấy ta hô hoán, ném cái nhìn sắc như dao, ta sợ hãi ngoan ngoãn ngậm miệng lại.
Ta đã thấy Phượng Hoàng kiêu ngạo, Phượng Hoàng lạnh lùng, Phượng Hoàng phong lưu, Phượng Hoàng khó tính, nhưng Phượng Hoàng ba hồn sáu phách đã mất đi một nửa như hôm nay, lại là lần đầu tiên nhìn thấy, không khỏi hiếu kì nhìn thêm mấy cái. Chỉ thấy hắn bước chân lộn xộn từ từ ra khỏi Thủy Kính, ngay cả mây cũng quên cưỡi, đi thẳng không hề ngoái đầu lại.
Đến đây, ta coi như tham ngộ được một việc. Kì thực linh lực cao hay không cao không phải thứ quan trọng, nếu như mồm mép lợi hại, dựa vào đó có thể đánh bại địch thủ. Trưởng phương chủ lần này đối trận với Phượng Hoàng chính là một ví dụ tốt, sự sùng bái của ta với lão nhân gia này không khỏi tăng thêm vài phần.
Chỉ là Phượng Hoàng bị Trưởng phương chủ nói cho choáng váng. Ta đi tìm ai để giải ba tấm bùa trên cửa nhà ta đây? Trước kia ta còn có thể tung tăng thư giãn gân cốt trong Thủy Kính, giờ chỉ có thể lòng vòng trong căn phòng nhỏ của mình, rất là buồn phiền.

Đọc tiếp Hương mật tựa khói sương – Chương 6.2

Bài viết liên quan đến Hương mật tựa khói sương:

Hãy bấm vào truyen trung quoc để quay lại trang chủ truyentrungquoc.com bạn nhé!

 

Hương mật tựa khói sương – Chương 5.1

Hương mật tựa khói sương – Chương 5.1  Đầu mối lộ tẩy

Đây là tình cảnh gì thế này? Ta không rõ nguyên nhân nhìn hắn, hắn cũng nhìn lại ta.

“Hừ!” Trên đỉnh đầu đột nhiên vang lên một âm thanh yêu mị khó chịu, ta ngồi bên vũng nước ngẩng đầu lên, chỉ thấy một cô gái mặc bộ áo mỏng đang cầm kiếm chỉ vào hai người trong giấc mộng xuân, nghiến răng nghiến lợi nói: “Nói! Cô ta là ai?”.
Thấy cô ta như có mối thù không đội chung trời, ta che mặt mình một cách bản năng, tiếp đó lại nhớ ra Phượng Hoàng đã hóa phép ảo thuật trên mặt mình, không phải bản thân thì không thấy được khuôn mặt chân thực, liền bỏ tay xuống thản nhiên trả lời: “Không biết đâu”.
Cô gái kia nghi hoặc nhìn ta kĩ một phen, có vẻ cảm thấy ta tướng mạo bình thường, liền quay người căm tức nhìn quang ảnh trên đất, vung kiếm chém vào đầu cô gái trong giấc mộng xuân.
A Di Đà Phật, ta sờ sờ sau cổ, mắt nhìn thấy giấc mộng trên mặt đất bị một kiếm chém thành tro bụi, bỗng cảm thấy cô gái này không phải người tử tế, phá hỏng niềm vui xem mộng xuân của ta.
“Ngươi là tùy tùng của Dạ Thần điện hạ? Nói! Hỏa Thần đang ở đây phải không?” Cô ta mắt lạnh trợn trừng, khí thế hung tợn.
Nhìn thấy khí thế ấy, ta nghiền ngẫm một lát, đây hẳn là kẻ thù của Phượng Hoàng, liền ân cần trả lời: “Đúng vậy”. Còn thuận tay chỉ đường cho cô ta: “Rẽ trái, lại rẽ trái, đi thẳng về phía trước rồi rẽ phải vào cửa, đang ở trong sảnh đường ấy”.
Cô ta không phụ sự kì vọng của ta, nhấc kiếm lên đi về phía tay trái.
Ta vỗ vỗ tay trực tiếp đi về bên phải, đi vào sảnh đường. Chỉ thấy Phượng Hoàng và Tiểu Ngư tiên quan hai người đang ngồi đối mặt trên một cái bàn hoa đào bốn mặt, đều đang tinh tế thưởng lãm một ly trà xanh, cơm trên bàn chưa động tí nào.
Xem kịch quan trọng nhất là chọn được chỗ ngồi tốt, vở kịch này Phượng Hoàng là diễn viên chính, đương nhiên phải ngồi đối diện với hắn để xem cho thoải mái, cho nên ta không hề do dự chọn lấy chỗ ngồi bên cạnh Tiểu Ngư tiên quan.
Ta vừa ngồi xuống, Phượng Hoàng lạnh lùng nhìn ta một cái, ra lệnh: “Ngươi lại đây”.
Lời còn chưa dứt, liền nghe tiếng rèm cửa kêu xoẹt một tiếng, kịch đã mở màn rồi. Ta liền không nhìn Phượng Hoàng, tay ôm một cốc trà im lặng ngồi đó, cô gái váy mỏng kia bị ta lừa đi một vòng cũng đã tới rồi, Phượng Hoàng kẻ địch xông tới mà còn chưa biết, còn cứ cau mày trợn mắt với ta.
Chỉ thấy cô gái ấy cầm kiếm đi thẳng vào, nhìn thấy chúng ta trước tiên là sững người, tiếp đó nhẹ nhàng vái chào: “Lưu Anh tham kiến Dạ Thần Đại điện hạ, Hỏa Thần nhị điện hạ”.
Thì ra không phải là báo thù… Ta không khỏi mất hứng.
Tiểu Ngư tiên quan gật gật đầu với cô ta, chỉ cười không nói. Tên Phượng Hoàng kia rời ánh mắt lạnh như băng ra khỏi gương mặt của ta, liếc người mới đến một cái. Cô gái kia thấy Phượng Hoàng nhìn mình, khuôn mặt ửng hồng.
Phượng Hoàng cười nhạt một tiếng: “Thì ra là Biện Thành công chúa, đã lâu không gặp, nàng vẫn khỏe chứ?”.
Ta đi theo Phượng Hoàng cả trăm năm, coi như biết tính cách của hắn, phàm là khi gặp mặt nữ nhi, hắn liền giở thái độ khiêm tốn hòa nhã là đủ, lại phối hợp với bộ mặt kia, các tiên cô tiên nga trên Thiên Giới đều cam tâm tình nguyện đổ rầm rầm như vậy.
Lần này xem ra Biện Thành công chúa cũng không địch nổi phong thái của Phượng Hoàng, ánh mắt của cô ấy theo nụ cười phong lưu của Phượng Hoàng trở nên mềm yếu đi mấy phần, cả người cũng mềm nhũn, ngồi xuống chỗ trống bên cạnh Phượng Hoàng y như chú chim nhỏ nép mình, hoàn toàn không còn thấy khí thế vung kiếm trong sân nữa.
“Lưu Anh thấy rất buồn, Nhị điện hạ tới Ma Giới mà lại không bảo lũ tiểu quỷ thông báo một tiếng, cùng Đại điện hạ ở trong một quán trọ quê mùa thế này, khiến người ta cho rằng cha con thiếp tiếp đãi không chu toàn.”
“Mọi việc đều có nguyên nhân của nó, lần này tới Ma Giới không phải để đi chơi, mà là vì một vụ công án, cho nên không tiện tới phủ làm phiền.” Phượng Hoàng khôn khéo tránh sang một bên.
“Nhị điện hạ không phải đã có ý trung nhân rồi, hạng ma nữ chúng ta không thể lọt vào mắt của Nhị điện hạ?” Vị Biện Thành công chúa kia hai mắt đỏ hoe, rưng rưng chực khóc. “Vừa rồi Lưu Anh thấy Yểm Thú nhả ra một giấc mộng trong sân, cô gái trong mộng cùng Nhị điện hạ cử chỉ rất thân mật, không phải là ý trung nhân của Nhị điện hạ chứ?”
“Khụ, khụ, khụ…” Trong cổ ta nghẹn sặc nước trà, ho không ngừng, Tiểu Ngư tiên quan đưa tay vỗ vỗ lưng giúp ta thuận khí.
“Cô gái trong mộng ư?”, sắc mặt Phượng Hoàng trầm xuống, “Giờ tài nghệ trộm mộng của Yểm Thú của Đại điện hạ ngày càng cao cường, ngay cả giấc mộng của thượng thần cũng dám trộm, không sợ trái với luật trời, bị giáng xuống luân hồi ư?”.
“Thượng thần dẫu ngủ cũng luôn có kết giới, Yểm Thú của ta dẫu bản lĩnh thông thiên cũng không vào được kết giới, Hỏa Thần chả lẽ không biết hay sao?” Tiểu Ngư tiên quan khí định thần nhẹ nhàng vỗ vỗ vào lưng ta.
Ta thầm biết gay rồi, sợ là đêm qua ta đưa Yểm Thú về phòng, xông nhầm vào kết giới của Phượng Hoàng, nó mới lỡ ăn giấc mộng xuân của Phượng Hoàng. Phượng Hoàng sắc mặt lạnh như băng, ta run rẩy, cơn ho không thể dừng lại được.
Cặp lông mày dài của Phượng Hoàng khẽ nhíu, nhìn thấy tay của Tiểu Ngư tiên quan đặt trên lưng ta giúp ta điều khí, ra lệnh cho ta: “Ngươi qua đây, Dạ Thần Đại điện hạ đã có hôn ước trên người, nếu để một tiểu tiên tì như ngươi hủy hoại thanh danh, bảo sao Tê Ngô cung chúng ta có thể đảm đương được”.
Thấy ánh mắt hắn bất thiện khí thế ép người, ta liền cúi đầu, cố ngừng cơn ho đi tới sau lưng hắn, sắc mặt hắn mới hòa hoãn đôi phần.
Vị công chúa kia có lẽ cũng bị khí thế của hắn làm cho sợ hãi, không dám tiếp tục hỏi về giấc mộng xuân nữa, ta liền chịu không biết ý trung nhân của Phượng Hoàng rút cục là cái gì.
“Từ lâu đã nghe nói Thiên Đế định hôn ước cho Dạ Thần Đại điện hạ, nhưng không biết cô nương nhà ai trong thiên địa lục giới có được may mắn này?” Sau một lúc trầm mặc, Lưu Anh công chúa liền đổi đề tài.
Tiểu Ngư tiên quan nghe thế, khóe mắt khép hờ, có một hình ảnh mờ nhạt, khóe môi cong cong, u ám nói: “Trưởng nữ của Thủy Thần”.
“Trưởng nữ của Thủy Thần… Thủy Thần và Phong Thần không phải tới giờ vẫn chưa có con hay sao?” Lưu Anh công chúa lời vừa nói ra khỏi miệng đã hối hận, ngượng ngùng cứng đơ ở đó.
Hiển nhiên câu nói này rất không thích hợp, nói cách khác, Thiên phi chính cung của Tiểu Ngư tiên quan còn chưa ra đời. Nhắc tới chuyện này, tự nhiên khiến hắn rất buồn. Ta trong lòng thở dài, Tống Tử Quan Âm nương nương phen này quả thực không giữ thể diện cho Thiên gia.
Thế nhưng Tiểu Ngư tiên quan lại không hề quan tâm ngáp một cái: “Giữa thanh thiên bạch nhật, là lúc ngủ tốt nhất, các người cứ nói chuyện, ta đi ngủ một giấc”, rồi lập tức biến mất không tung tích, chắc là về phòng rồi. Ta bỗng nhớ ra Tiểu Ngư tiên quan là Dạ Thần, nghĩa là ban đêm làm việc, ban ngày mới ngủ bù, khó trách trước kia lão Hồ nói hắn chỉ ra ngoài vào ban đêm.
Biện Thành công chúa khuyên Phượng Hoàng tới phủ ở không được, liền kiếm một căn phòng trong quán trọ ở lại. Cô Lưu Anh công chúa này không phải ai khác, chính là viên ngọc minh châu trên tay của Lục Biện Thành Vương trong Thập Điện Diêm La. Hành động này của cô ta, cả Ma Giới đều biết hai vị điện hạ của Thiên Giới liên thủ tới Ma Giới trừ hại, mà lục công chúa của bọn họ đang cẩn thận từng li từng tí phụng bồi bên cạnh. Cho nên, cửa quán trọ nhỏ bé này ngày ngày đều rất náo nhiệt, đám yêu quỷ si tình lũ lượt tới cửa như đèn cù.
Ta tổng kết được một câu tâm đắc: Trên trời dưới đất nếu luận về bản lĩnh đào hoa, quả nhiên không ai thắng được Phượng Hoàng.
Lại nói về yêu thú Cùng Kỳ và ác quỷ Chư Kiền, vốn là ngươi thả ra yêu hỏa, ta tạo ôn dịch, đánh nhau rất dữ dội, có điều lúc đó hại chết một số phàm nhân cây cỏ. Cũng không phải chuyện gì ghê gớm, nhưng không ngờ lại bị Hỏa Thần và Dạ Thần cùng bắt, quả có vài phần oan khuất. Thế nhưng, dẫu có oan khuất trăm lần, giờ cũng không có chỗ tố cáo, hai tên yêu thú đã bị Hỏa Thần phong ấn trong hai cái hồ lô khác nhau, dán thêm hỏa ấn, chỉ đợi qua vài ngày sẽ phán tội tan thành tro bụi.
Phượng Hoàng và Tiểu Ngư tiên quan không có nghĩa khí gì, khi hai người đi bắt yêu liền dùng phép định thân bỏ ta lại một mình trong quán trọ, thế là ta trắng trợn bỏ lỡ một màn giao đấu đặc sắc. Cùng Kỳ và Chư Kiền hình dáng thế nào ta cũng không thấy, chỉ thấy Phượng Hoàng cầm hai cái hồ lô vàng ối một mình trở về, Tiểu Ngư tiên quan vì tạm thời có công vụ khẩn cấp nên đã trở về Thiên Giới.
Phượng Hoàng vốn không quá nhiệt tình với ta, mấy ngày gần đây ở Ma Giới không biết bị trúng phải chứng bệnh gì, thái độ đối với ta ngày càng quái dị. Rõ ràng nhìn ta không thuận mắt, lại cứ một mực bắt ta ở bên cạnh hắn, trừ hôm đi bắt yêu, hắn đều dùng tiên chướng phong tỏa hành tung của ta, khiến ta kè kè đi theo không thể cách hắn trăm bước.
Giấc mộng thường là tương phản. Cho nên, ta ngẫm nghĩ nếu xoay ngược lại giấc mộng của Phượng Hoàng bị Yểm Thú bất ngờ lấy được ngày đó, chắc đấy mới là tâm ý thực sự của hắn.
Tuy thân phận ta lúc này chỉ là một thị nữ tùy thân của Nhị điện hạ hèn kém không đáng nhắc tới, nhưng vị Biện Thành công chúa kia vẫn thấy ta rất chướng mắt, luôn nghĩ cách không để ta và Phượng Hoàng ở riêng, kì thực ta cũng muốn thành toàn cho cô ta, nhưng Phượng Hoàng lại không chịu thành toàn cho ý tốt của ta. Pháp thuật của ta không bằng hắn, đành bất đắc dĩ tiếp tục chịu đựng Biện Thành công chúa và một đám yêu nữ ma cau mày quắc mắt.
Liễu Thính thường thường than thở, không biết cô gái nào trên thế gian có thể lấy được trái tim của Nhị điện hạ, ta lại âm thầm tự thán, không biết vị tiên ma nào trên thế gian có thể lấy được nội đan tinh nguyên của Phượng Hoàng.
Đương nhiên, lấy không được nội đan của Phượng Hoàng, lấy nội đan của yêu ma cũng không tệ, hiện giờ có hẳn hai tên. Một đêm khuya gió lớn, khi vạn vật đang ngủ yên, nhân lúc Phượng Hoàng không dùng tiên chướng nhốt ta, hắn lại vừa đấu phép cùng yêu quái trở về đang đả tọa nghỉ ngơi trong phòng, ta liền lấy trộm một cái tiểu hồ lô nhốt yêu quái.
Ta lầm rầm niệm chú, mở nắp hồ lô nhìn thấy mọi thứ bên trong, chỉ thấy một thứ màu tro xám đang nằm ở đáy hồ lô, trông giống con chuột ở trần gian, hai mắt nhắm chặt chỉ thở ra chứ không hít vào, mắt thấy hơi thở càng lúc càng yếu đi. Ta đoán nó yếu ớt như vậy, linh lực còn lâu mới thắng được ta, liền yên tâm liều lĩnh gỡ hỏa ấn trên hồ lô, thả nó ra.
“Nằm xuống!” Chợt nghe một tiếng kêu thảm thiết vang lên sau lưng ta, liền thấy con chuột hai mắt mở trừng, như có nghìn vạn cây trâm bắn ra, ta không kịp làm gì, liền bị một thân thể cao lớn ấm áp lao tới đè xuống.

 

Đọc tiếp Hương mật tựa khói sương – Chương 5.2

Bài viết liên quan đến Hương mật tựa khói sương:

Hãy bấm vào truyen trung quoc để quay lại trang chủ truyentrungquoc.com bạn nhé!

 

Hương mật tựa khói sương – Chương 3.2

Hương mật tựa khói sương – Chương 3.2

Khói lửa thế gian, âm điệu của diễn viên tuồng Côn Khúc uyển chuyển du dương: “Thời gian dễ dàng vứt bỏ người, hồng cánh anh đào, xanh lá chuối tiêu…”.
Bên cạnh Quan Trần Kính, Hồ Ly tiên ôm cái đuôi mượt mà bóng loáng, híp mắt nhìn ngâm nga ư ử. Ta ngồi bên cạnh Quan Trần Kính, cằm gật gù ngủ lơ mơ.
Trong trăm năm này, ta vì tu luyện linh lực đi theo Phượng Hoàng làm một tiểu thư đồng thực rất lãng phí khí lực, thời gian nhàn rỗi thế này quả thực không nhiều, cho nên lần này ta ngủ rất là thoải mái.
Lúc nhàn rỗi thoải mái không khỏi sinh ra mộng mị. Trong giấc mộng, ta chân đạp mây lành, trên đầu hạc tiên bay lượn, cuối cùng công quả viên mãn phi thăng thành thượng tiên, các tiên trên trời đều tới chúc mừng, ngay cả Nhị Lang Chân Quân cũng dắt theo Thiên Cẩu tới tham dự, con Thiên Cẩu béo chắc nịch vừa vái chào vừa rớt nước miếng, khiến các thần tiên cười vui mãi không thôi.
Ta nhất thời cao hứng cũng thả sủng vật của mình ra, một con quạ to lớn toàn thân đen kịt.
Ta vuốt ve cái đuôi của nó, ra lệnh: “Tiểu Phượng, hát một khúc nhạc cho các thượng tiên nghe nào”. Tiểu Phượng cào cào chân, vênh váo lườm ta một cái, trầm mặc.
Ta cười gượng với các tiên một tiếng: “Con quạ đen này vừa bị nướng cháy, sợ là cổ họng đã bị nướng khô rồi”.
Lời còn chưa dứt, Tiểu Phượng vỗ cánh bay tới, móng vuốt sắc bén bấu vào búi tóc của ta, lớn tiếng niệm chú: “Mực mài xong chưa? Trà pha xong chưa? Thái Âm Kinh đã thuộc chưa? Không muốn linh lực nữa hay sao?”.
Ta giật mình mở mắt ra, thấy đối diện là một cặp mắt to sáng lấp lánh, lại giật mình tiếp.
Ta dựa vào phía sau, suýt nữa làm đổ Quan Trần Kính, kéo dài khoảng cách mới nhìn thấy rõ chủ nhân của đôi mắt to trong veo kia, một tiểu tiên cô má hồng đang luống cuống đứng trước mặt ta, đôi mắt không ngừng nhìn khuôn mặt ta. Ta cảm thấy rất kì lạ.
Động tác này đã làm kinh động Hồ Ly tiên đang nghe kịch, ông gấp lại Quan Trần Kính, khúc hát trong kính im bặt.
“Ha ha, Tử Khí tinh sứ tốt chứ, hôm nay sao lại nhàn rỗi tới thăm lão phu thế này?”, Hồ Ly tiên nhiệt tình tiến lại gần.
Sắc mặt của tiểu tiên cô đã hồng lại càng hồng, xoắn xoắn chiếc khăn lụa trong tay, chất giọng trong trẻo: “Tham kiến Nguyệt Hạ tiên nhân, tiểu tiên là Nguyệt Bột, Tử Khí là tỉ tỉ của tiểu tiên, tiểu tiên… tiểu tiên… tiểu tiên…”.
Ồ, tiểu tiên cô này nói chuyện sao lại có tiếng vọng nhỉ?
Nguyệt Hạ tiên nhân vỗ tay, cười ha ha, nói: “Nguyệt Bột tinh sứ tới lấy tơ hồng phải không?”.
Sắc mặt tiểu tiên cô lập tức có thêm một tầng màu hồng nữa, cô ấy gật đầu rất nhẹ, sau đó lại liếc ta một cái: “Đúng vậy, không biết vị thượng tiên này xưng hô thế nào?”.
Trời ơi, trên trời dưới đất đây là lần đầu tiên có người gọi ta là “thượng tiên”, ta vô cùng cảm động, đang muốn mở miệng, lại bị Hồ Ly tiên vốn luôn nhiệt tình tranh trước: “Ha ha ha, đây là Cẩm Mịch, đứa bé này do Phượng Hoàng nuôi nấng, trông rất xinh xắn phải không?”.
Ta cam chịu thở dài, thấy việc lạ mà không lạ.
Hồ Ly tiên gặp người liền giới thiệu ta do Phượng Hoàng dẫn tới, ta chẳng qua chỉ ở trong Tê Ngô cung ngắn ngủi trăm năm, được hắn chỉ bảo phép tu luyện, linh lực và cơ thể đều lớn lên nhiều, sao lại thành do hắn nuôi lớn được…
Tiểu tiên cô lại khe khẽ gật gật đầu, sau đó liền không ngẩng đầu lên nữa.
Hồ Ly tiên lấy sợi tơ hồng đưa cho cô bé, ta nghĩ tiểu tiên cô này tốt xấu gì cũng là người đầu tiên gọi ta là “thượng tiên”, thực sự không có gì để báo đáp, liền gom tơ hồng lại tết thành một đóa hoa đưa cho cô bé, còn dặn dò: “Nguyệt Bột tinh sứ chỉ cần thả bông hoa này vào trong mây, liền rơi xuống đất mọc rễ nở hoa ngay”.
Tiểu tiên cô lần này rút cục đã ngẩng đầu lên, nhận lấy đóa hoa, đuôi mày khóe mắt có vẻ rất hạnh phúc vui sướng, trước khi đi còn không quên nhìn ta một lần.
Hôm sau, sắc trời còn chưa sáng hẳn, ta liền dậy đi ra vườn hoa phía sau Tê Ngô cung đả tọa, chỉ vì Phượng Hoàng đã từng nói: “Giờ Dần là lúc mặt trời mặt trăng đổi ngôi, là khi nguyên khí trong trời đất giao hòa, có thể đả thông trăm huyệt, tu luyện cực tốt”. Thế là, trăm năm ấy ta không được nếm tư vị ngủ nướng, không biết Thiên Giới có thể có mấy thần tiên dậy sớm hơn cả Mão Nhật tinh quân như ta.
Nhìn xa ta giống như đang đả tọa, nhìn gần cũng giống đang đả tọa, kì thực là đang ngủ gà gật, tiểu tiên thị Phi Tự liền như một trận gió bay tới trước mặt của ta: “Cẩm Mịch, ngoài cửa có vị tiên nga tỉ tỉ ở Cửu Diệu tinh cung nhờ ta trao bức thư này cho ngươi”. Lời còn chưa dứt người đã chạy đi mấy bước rồi. Ta cầm bức thư suýt nữa rơi vào trán mình, cảm thán biết bao giờ Phi Tự mới có thể ổn trọng như ta? Biết bao giờ Phượng Hoàng mới có thể khiêm tốn không đào hoa nữa đây?
Giờ Mão, ta đưa bức thư tình màu hồng tới tay Phượng Hoàng, Phượng Hoàng mở ra theo lệ cũ, nhưng lần này vẻ mặt không giống như xem rau quả mọi khi, mà còn híp híp mắt, có vẻ rất thích thú, đọc xong còn có vẻ dư vị chưa tan cười lên một tiếng.
Ta không khỏi vô cùng hối hận sao không xem trước bức thư tình ảo diệu này. Xem ra trăm năm nay tài văn chương của các tiên tử đã tiến bộ rồi.
Ta đang buồn rầu, Phượng Hoàng lại nhướng cặp mắt dài hẹp kia, nhìn ta từ trên xuống dưới một lần, vẫy tay nói: “Ngươi lại đây”.
Đợi ta đến gần, hắn lại đưa bức thư thơm phức này cho ta: “Ngươi xem xem”.
Ha ha, thật hợp ý ta. Ta cầm lấy hai trang giấy thưởng thức kĩ lưỡng một hồi, Phượng Hoàng hỏi: “Thế nào?”.
Ta suy nghĩ một lát, nhận xét rất thực lòng: “Hành văn lưu loát, ngôn từ tha thiết, nét chữ tươi đẹp, chỉ có một chỗ không hay là dấu chấm phẩy sử dụng quá nhiều, nên giảm bớt”.
Phượng Hoàng hiển nhiên không thích lời nhận xét vừa công bằng vừa sắc sảo của ta, ngón tay nhẹ nhàng chỉ vào mấy chữ ở đầu bức thư: “Đọc đi”.
Cẩm Mịch thượng tiên, thấy chữ như thấy người!
Ủa, bức thư tình này lại được viết cho ta! Sớm biết như vậy, ta liền ngấm ngầm cất đi.
“Ánh mắt của các tiên cô bây giờ càng ngày càng kém.” Phượng Hoàng vặn vẹo cổ tay nhìn ta một cái.
Giờ Ngọ buổi trưa, sau khi ta cơm no rượu say, Phi Tự vội vàng tới báo tin: “Cẩm Mịch, bên ngoài có người tìm”.
Ta liền vứt cái bộ dạng của một con sâu ngủ đi ra trước cửa, chỉ thấy một tiểu tiên cô mảnh mai yểu điệu đang thẹn thùng rụt rè đứng ngoài cửa, sau khi nhìn thấy ta khuôn mặt lại càng thêm đỏ hồng. Mặt cô ấy đỏ như vậy, ta nhớ ra rồi, chính là Nguyệt Bột tinh sứ đã gặp ở Nhân Duyên phủ hôm qua. Chính là Nguyệt Bột tinh sứ đã gọi ta là “thượng tiên”!
Ta chạy tới trước mặt, nhiệt tình nói: “Xin chào tinh sứ”.
“Xin chào… Cẩm Mịch… Cẩm Mịch… thượng tiên, cái đó… cái đó… không biết ngài có đồng ý hay không…?”
Cô ấy hỏi như vậy, tức là hỏi ta, cái gì mà “có đồng ý hay không?”.
Thấy ta như vậy, đôi má hồng của tiểu tiên cô càng thêm đỏ rực, ấp úng nói: “Chính là… bức thư… đó… hôm nay… sáng sớm”.
Ồ, bức thư sáng nay thì ra là do Nguyệt Bột tinh sứ viết cho ta, ta quên không xem lạc khoản. Ta băn khoăn, Hồ Ly tiên nói với ta nam nhi với nam nhi phát sinh tình ái gọi là đoạn tụ, vậy tình ái giữa nữ nhi với nữ nhi gọi là gì nhỉ? Thật lúng túng.
Một trận gió nhẹ thổi qua, Nguyệt Bột tinh sứ bỗng loạng chà loạng choạng ngã về phía ta. Ta vừa tránh, cô ấy dường như không giữ được thăng bằng, không va vào người ta, có điều cặp môi hồng lại chạm lên má ta một cái.
Nhìn tiểu tiên cô đỏ mặt chạy đi, ta giơ tay lau đi vết son trên má, quay người trở về ngủ trưa.
Lại một ngày trôi qua, ta đang đọc sách đến đau cả đầu, Liễu Thính bẩm báo với Phượng Hoàng có người cầu kiến. Từ đôi mắt long lanh của hắn, ta nghiễm nhiên ngửi thấy mùi vị hấp dẫn, thế là chỉnh sửa quần áo ngồi ngay ngắn ôm sách chuẩn bị xem kịch.
Nào ngờ, Phượng Hoàng còn chưa mở mồm cho gặp, liền thấy một vị tiên quân cao lớn uy phong lẫm liệt bước vào Tẩy Trần điện, phía sau là một đám tiên thị xách theo hòm to hòm nhỏ.
Vị tiên quân cao lớn chắp tay, mở miệng rất có khí thế: “Kế Đô ở Cửu Diệu tinh cung tham kiến Nhị điện hạ”.
Phượng Hoàng thờ ơ gác bút, đáp lại một câu, ánh mắt vẫn tập trung vào đám công văn không hề dịch chuyển.
Vị tiên quân kia hắng giọng, thẳng thừng nói ra một câu: “Kế Đô là người thô lỗ, không biết nói chuyện quanh co, hôm nay tới đây là để cầu thân với Nhị điện hạ”.
Cả tòa Tẩy Trần điện nhất thời ngay cả tiếng lá rụng cũng có thể nghe thấy. Tròng mắt Liễu Thính như sắp lòi ra ngoài. Ta không khỏi có chút cảm khái, Thiên Giới quả là nơi rất thần kì, hôm qua ta bị một tiểu tiên cô hôn, hôm nay lại có một người đàn ông thô lỗ tới cưới Phượng Hoàng. Hay, rất hay.
Lại nhìn Phượng Hoàng, hắn chỉ day day thái dương, không hổ là cao thủ trăm hoa mê đắm, sắc mặt vẫn không chuyển, chỉ ngước mắt lên mà thôi.
Lúc đó một tiểu tiên thị phía sau Kế Đô tinh quân ho mạnh một tiếng, vội vàng thanh minh: “Nhị điện hạ chớ trách, tinh quân nhà ta không có ý đó. Tinh quân thay mặt Nguyệt Bột tinh sứ nhà ta đến cầu thân với Nhị điện hạ”.
Một tiểu tiên thị khác kéo kéo vạt áo hắn, cau mày nói: “Nhầm rồi nhầm rồi, lại nhầm rồi! Là tinh quân thay mặt Nguyệt Bột tinh sứ tới cầu thân với Cẩm Mịch thượng tiên trong phủ của Nhị điện hạ”.
Cái vòng luẩn quẩn này sao lại rắc rối như vậy, mọi người trong Tẩy Trần điện sau chốc lát đã hiểu ra trận thế này của Kế Đô tinh quân không phải tới để bắt Nhị điện hạ của họ, thế là yên tâm ào ào thốt lên một tiếng “à”, sau khi dư vị chốc lát lại “ồ” một tiếng với ngữ điệu rất cao cuối cùng ánh mắt tất cả mọi người đều đổ dồn lên người ta.
Kế Đô tinh quân cười chất phác: “Chính thế, chính thế, tới để cầu thân với Cẩm Mịch thượng tiên”.
Ta nghe thấy tiếng quyển sách rơi bịch xuống đất.
Kế Đô tinh quân lần này cũng không ngây thơ, thuận theo ánh mắt của mọi người tìm thấy ta, bước tới vỗ vai ta rất vui vẻ. Bàn tay gấu ấy vừa hạ xuống, vai ta đau bỏng rát, hắn lại vui vẻ tự nói một mình: “Nhìn dung mạo hào sảng như vậy thì nghĩ chính là Cẩm Mịch thượng tiên rồi! Nghe nói hôm qua Nguyệt Bột nhà ta đã khinh bạc ngươi ở ngoài Tê Ngô cung, Cửu Diệu tinh cung chúng ta trước nay dám làm dám chịu, đây là sính lễ, ta thấy cũng chẳng cần chọn ngày lành tháng tốt làm gì, hôm nay ta dẫn ngươi về cưới tiểu nha đầu Nguyệt Bột luôn”.
Phượng Hoàng lần này cuối cùng cũng cảm thấy hứng thú, bước qua trung tâm tòa điện tới trước mặt ta, không hề có dấu vết nhấc bàn tay gấu ra khỏi vai ta, Phượng Hoàng mạnh mẽ nhìn ta một cái, thuận tiện dùng ngữ điệu cao ngạo hắn vẫn quen dùng nói: “Khinh bạc sao?”.
Ta sờ sờ má: “Chẳng qua chỉ thơm một cái, không sao, không sao”.
Phượng Hoàng ngẩng đầu nhìn trời, day day trán. Sau đó nó với Kế Đô tinh quân: “Sợ là phải làm tinh quân thất vọng, Cẩm Mịch này thực không thể cưới Nguyệt Bột tinh sứ được”.
Kế Đô tinh quân như muốn nổ tung nói: “Vì sao không thể cưới? Kẻ nào ghét bỏ Nguyệt Bột nhà ta?”.
Phượng Hoàng đè tay hắn xuống: “Tinh quân chớ lo, thực ra là vì Cẩm Mịch cũng coi như có tâm không có lực. Từ xưa uyên ương sánh đôi, cầu vồng làm bạn, Cẩm Mịch cũng là nữ nhi, đương nhiên không thể cưới Nguyệt Bột tinh sứ”.
Lời này Phượng Hoàng vừa nói ra, các tiên trong điện đều bàng hoàng.
Kế Đô tinh quân phản ứng rất nhanh, nhìn ta từ trên xuống dưới một lần, vẻ nghi ngờ trong mắt rất đậm: “Thật sao?”.
Phượng Hoàng thở dài, đưa tay rút cây trâm trên đầu ta ra, mái tóc dài buông xõa xuống. “Thế này tinh quân đã tin chưa?” Có lẽ sự thay đổi trong chớp mắt của ta đã khiến các tiên kinh ngạc, vài người suýt nữa ngã lăn ra.
“Đây là… đây là… đây là…” Kế Đô tinh quân lắp bắp.
“Cẩm Mịch trước bị Tỏa Linh trâm áp chế, tinh quân và Nguyệt Bột tinh sứ nhận nhầm cũng chẳng có gì lạ.” Ồ? Phượng Hoàng sao lại biết cây Tỏa Linh trâm này? Ta cũng không biết. Cây trâm này hơn một nghìn năm trước Trưởng phương chủ Mẫu Đơn đưa cho ta, nói với ta có thể đề cao linh lực, ta liền rất vui vẻ luôn mang bên mình. Chẳng qua linh lực không tăng được bao nhiêu, nhưng gần trăm năm qua cơ thể ta dần dần phát triển, phát hiện rằng chỉ cần rút cây trâm này ra, dung mạo cơ thể ta sẽ biến hóa, vô cùng thần kỳ.
Một lúc lâu sau, vị tinh quân lỗ mãng kia cuối cùng cũng bình tĩnh trở lại, mặt ửng hồng, quay mặt đi nói có chút ngượng ngùng: “Cẩm Mịch tiên tử, thực là đắc tội, thực là đắc tội”.
Đám người Cửu Diệu tinh cung liền rời đi. Chưa tới hai ngày, chuyện này đã lan truyền ầm ĩ khắp Thiên Giới.
“Biết chưa? Tên thư đồng đi theo Nhị điện hạ, chính là cái tên mặt búng ra sữa, môi hồng răng trắng đó, chính là một tiểu cô nương xinh đẹp.”
“Thật sao! Nghe nói tên tiểu thư đồng đó không chỉ quyến rũ Nhị điện hạ, còn khinh bạc cả Kế Đô tinh quân.”

Đọc tiếp Hương mật tựa khói sương – Chương 3.3

Bài viết liên quan đến Hương mật tựa khói sương:

Hãy bấm vào truyen trung quoc để quay lại trang chủ truyentrungquoc.com bạn nhé!

 

Hương mật tựa khói sương – Chương 3.1

Hương mật tựa khói sương – Chương 3.1

“Thời gian dễ dàng vứt bỏ người, hồng cánh anh đào, xanh lá chuối tiêu…”

Mão Nhật tinh quân vừa đem ông mặt trời nóng bỏng chìm vào biển, bóng tối đã như con dơi rời khỏi tổ, trong khoảnh khắc bao trùm cả đất trời.
Ta ngửa mặt nằm trên một chạc cây hải đường, nhắm mắt dưỡng thần. Phía dưới cây là một vùng nước biếc mênh mông hòa quyện với ánh trăng. Cái đầm nước xanh mênh mông không bờ bến này gọi là Lưu Tử Trì, được coi là phong cảnh đẹp nhất Tê Ngô cung.
Lúc đang lim dim mơ màng, chợt nghe thấy dường như có tiếng nước lõm bõm, ta nhìn về phía có tiếng động, nhưng thấy bên bờ đầm lờ mờ có một bóng người, đang vốc nước tắm gội.
Mượn ánh trăng, ta chăm chú nhìn kĩ, à, là Phượng Hoàng.
Các tiên cô, tiên nga lúc riêng tư đều thích bàn luận về hắn, theo lời của họ, trong lục giới Phượng Hoàng chính là nam thần tiên đẹp trai nhất trong vòng một vạn năm nay. Ta trước nay chưa từng ngắm kĩ, lúc này liền đem tất cả các bộ phận lộ trên mặt nước nhìn ngắm kĩ càng, chẳng nhìn thấy gì đặc biệt cả. Ta đang muốn thi triển phép thuật để xem xem nửa người ngâm dưới nước kia có gì đặc biệt không, bất chợt cảm thấy thân hình nhẹ bỗng, bị người ta làm hiện nguyên hình rơi xuống nước.
Khi ta trèo từ dưới nước lên, chỉ thấy Phượng Hoàng đã mặc một chiếc áo màu xanh, tóc dùng một cây trâm ngọc bích cài lại, khoanh tay đứng bên bờ nhìn xuống chỗ ta.
“Ngươi không chịu đi tu luyện, ở trên chạc cây làm cái gì?”
“Ngộ thiền.” Ta niệm chú giũ sạch nước trên người, trả lời không hề hoang mang.
“Phạn Thiên chú dạy ngươi hôm nay đã nhớ hết chưa?” Phượng Hoàng theo thói nghịch nghịch búi tóc của ta, ta cũng không thể tránh né, liền không tình nguyện trả lời rằng: “Nhớ hết rồi”.
“Đọc lên cho ta nghe.” Phượng Hoàng chắp tay sau lưng, giẫm lên một đám mây đang bay là là trước mặt, ta vừa vụng về giẫm lên một đám mây đi theo sau, vừa ấp úng đọc thuộc bốn mươi chín câu Phạn Thiên chú.
Mắt thấy sắp tới cửa Tẩy Trần điện cũng coi như đọc xong, Phượng Hoàng đột nhiên quay người lại, ta suýt nữa va vào. Hắn bỗng cười một tiếng: “Phạn Thiên chú ngắn ngủn ngươi đọc thất điên bát đảo như vậy, bốn mươi chín câu chỉ đúng có năm câu, đúng là chẳng dễ nhỉ”.
Ta cười gượng nhìn đầu ngón chân mình.
“Trở về chép Vô Tướng Tâm kinh cho thuộc, giờ Mão ngày mai tới đọc cho ta nghe.”
Ta cung kính nhìn hắn xoay người, sau đó cất bước giẫm lên cái bóng bị ánh trăng kéo dài sau lưng hắn.
Từ hơn một tháng trước, sau khi ăn trứng Chu Tước linh lực bị mất đi già nửa, ta liền ở trong Tê Ngô cung của Phượng Hoàng dưỡng thương. Ngày thường khi cùng các tiểu tiên nga nhàn rỗi tán chuyện, nghe nói Phượng Hoàng tuy tuổi mới có một vạn năm nhưng đã trưởng quản thiên tướng năm phương, là người có linh lực mạnh nhất trong các đời Hỏa Thần.
Ta tâm niệm vừa động, mặt dày đi tìm tên Phượng Hoàng kia, cầu xin hắn cho ta một ít linh lực, hắn không đồng ý.
Hồ Ly tiên từng nói bí quyết số một để đối phó với đàn ông là không được tấn công mạnh mẽ, chỉ có thể nhu nhược thu lấy, tỏ ra mềm yếu là lấy lùi làm tiến vậy.
Ta cố nén nước mắt, giả vờ ngoan ngoãn trước mặt hắn hai ngày, lại thỉnh thoảng dùng cặp mắt trong veo u oán nhìn hắn. Quả nhiên cực kì hiệu quả, ngày thứ ba tên Phượng Hoàng kia liền hòa hoãn, tuy vẫn không chịu trực tiếp cho ta linh lực, nhưng đồng ý sẽ dạy cho ta vài pháp môn tu luyện.
Ta vô cùng vui mừng ngày nào cũng tới trước mặt hắn trình diện, nhưng không thấy hắn truyền thụ cho ta tí bí quyết nào, chỉ một mình vùi đầu vào xử lý công văn, thỉnh thoảng sai ta mài mực pha trà. Ngay cả lên thao trường hắn cũng bảo ta đi theo, thế là ta thường đứng bên nhìn hắn thao luyện thiên binh, đứng coi khoảng bốn, năm canh giờ.
Ba ngày như thế, ta đoán tỏ ra nhu nhược như vậy giống với quá nhu nhược, chúng ta làm hoa quả cũng rất có nguyên tắc, suy nghĩ một lúc, đang định tìm hắn lí luận, hắn lại viết hai trang giấy nhẹ nhàng đưa cho ta: “Đây là Sa Bà quyết, trở về chép lại, có chỗ nào không hiểu ngày mai tới đây ta sẽ dạy cho ngươi”.
Thực là chạm đúng tử huyệt của ta. Từ khi ta có trí nhớ tới giờ, việc ta ghét nhất chính là học thuộc, phàm là nhắc tới chuyện học thuộc ta đều bắt đầu thấp thỏm không yên.
Ta cầm lấy hai tờ giấy, cau mày rất là đau khổ.
Phượng Hoàng tay không rời sách, đầu cũng không ngẩng lên nói với ta: “Ta thấy ngươi tư chất rất tốt, linh lực không cao, nhất định là vì không có căn bản tốt, tu luyện không đúng cách, hôm nay phải bắt đầu từ lí luận”.
“Nguyệt Hạ tiên nhân cũng nói như vậy.” Ta nhớ tới những lời tương tự Nguyệt Hạ tiên nhân cũng từng nói.
“Ồ? Thúc phụ cũng nói như vậy sao?”, Phượng Hoàng nhướng cặp lông mày dài rậm lên.
“Vâng, Nguyệt Hạ tiên nhân nói mở mang tình ái phải bắt đầu từ lí luận.” Ta thành thực trả lời.
Sắc mặt Phượng Hoàng xám ngoét.
Ta cố gắng cầm tờ giấy về học thuộc. Ngày thứ hai tới Tẩy Trần điện, Phượng Hoàng vẫn vùi đầu vào công vụ, sai ta mài mực pha trà, thấy ta tức giận liền thản nhiên trả lời: “Tu luyện kị nhất là tránh hấp tấp vội vàng, bình tâm tĩnh khí mới là căn bản. Mới có hai ngày ngươi đã không chịu được, sao có thể vào hàng thượng tiên?”.
Có câu: “Việc công báo thù riêng” chính là như vậy. Đại khái vì ta đã từng muốn lấy nội đan tinh nguyên của hắn khiến hắn ghi hận, tuy sau mấy ngày xem xuân cung đồ cuối cùng ta đã hiểu đó không phải là nội đan tinh nguyên, nhưng Hồ Ly tiên nói với ta, với nam tử thứ đó còn quan trọng hơn nội đan tinh nguyên nhiều, nếu mất đi quả là chuyện cực kì kinh khủng.
Nghĩ tới việc Sa Bà quyết hắn đưa ta hôm qua vẫn có chỗ hữu dụng, ta lại đuối lý trước mặt hắn, tạm không tính toán gì với hắn.
Thế là ta liền ngày ngày ngồi trong Tẩy Trần điện với Phượng Hoàng, trừ những lúc hắn kiểm tra ta học thuộc kinh, quyết, tụng, chú, hắn đều sai phái ta không ngừng. Hơn tháng tiếp theo, ta cảm thấy mình nghiễm nhiên còn giống thư đồng của hắn hơn cả hai tên tiên thị Liễu Thính và Phi Tự.
Có điều, làm thư đồng của Phượng Hoàng cũng không phải chuyện sai phái hoàn toàn buồn chán, cách dăm ba hôm thế nào cũng có người tới cửa giải sầu cho ta.
Đương nhiên đều là vì vẻ đẹp đứng đầu lục giới của Phượng Hoàng, làm say đắm nghìn vạn tiên cô, tiên nga. Khi Phượng Hoàng xử lý công vụ trong Tẩy Trần điện, sẽ có tiên cô, tiên nga hoặc nữ yêu đắc đạo nhân lúc ta nhàn rỗi ra khỏi Tẩy Trần điện hít thở không khí trong lành, đưa ra những bức thư thơm phức nhờ ta chuyển hộ.
Kẻ không chịu thiệt như ta, trước khi chuyển hộ sẽ thay mặt đọc trước. Thư tình trong truyền thuyết quả nhiên cực kì phong phú. Bút pháp tế nhị, khiến ta được mở mang kiến thức.
Nhưng Phượng Hoàng phàm là thấy những bức thư màu hồng ấy, lông mày đều nhíu lại, sau đó giũ ra khỏi bì thư bằng lụa, dùng ánh mắt như trông rau quả để đọc, sau đó vứt sang một bên.
Nếu Phượng Hoàng rời khỏi Tẩy Trần điện đạp mây bay lên trời, thì nhất định chưa bay được mấy bước, liền có một vài mĩ nhân yếu ớt vô lực đứng trên mây không vững lảo đảo ngã xuống. Phượng Hoàng đương nhiên sẽ lễ nghĩa chu toàn dìu mĩ nhân đứng dậy, thuận tiện nở một nụ cười phong lưu, vô cùng quan tâm nói: “Hôm nay gió lớn, mĩ nhân phải chú ý dưới chân, nếu không đứng trên mây sẽ bị gió cuốn đi”.
Các tiên tử sẽ dùng khăn lụa che miệng, yêu kiều trả lời một câu: “Nhị điện hạ vất vả rồi, gió quá lớn, Nhị điện hạ sao lại ăn mặc phong phanh thế này, tiểu tiên vừa dệt một chiếc áo gấm, không bằng ngày mai đưa tới Tê Ngô cung được chứ?”.
Phượng Hoàng nhất định sẽ lại cười tiêu sái: “Tiên tử nhọc lòng rồi”.
Ta nhìn đám mây không hề lay động và mặt trời ngoác miệng cười ngớ ngẩn, bĩu bĩu môi, gió đúng là lớn thật.

Đọc tiếp Hương mật tựa khói sương – Chương 3.2

Bài viết liên quan đến Hương mật tựa khói sương:

Hãy bấm vào truyen trung quoc để quay lại trang chủ truyentrungquoc.com bạn nhé!

 

Hương mật tựa khói sương – Chương 2.3

Hương mật tựa khói sương – Chương 2.3

Phật tổ gia gia từng nói: “Một niệm lòng tham trỗi dậy, trăm ngàn chướng ngại tới”. Đời người phải trải qua hai mươi kiếp nạn, thứ đầu tiên chính là lòng tham. Nhưng ta chỉ là một tinh linh tu tiên chưa thành, đạo hạnh không cao, cảnh giới đương nhiên cũng không quá cao. Lần này ra khỏi Hoa Giới chính là vì tham tìm con đường tắt để đề thăng linh lực. Ta sống ở chỗ Hồ Ly tiên rất thoải mái, trừ việc ngẫu nhiên bị Hồ Ly tiên xách đi bình phẩm xuân cung đồ nói chuyện tình ái, thời gian nhàn rỗi chính là suy nghĩ về việc này.
Đáng tiếc Hồ Ly tiên trời sinh đã có tiên căn, đối với việc tu luyện hoàn toàn không cần nghiên cứu tập luyện gì, không có pháp môn nào có thể truyền thụ cho ta. Chẳng qua Thiên Giới có rất nhiều cao nhân, bảo vật vô số, thông minh như ta đương nhiên chưa tới hai ngày đã nghĩ ra một biện pháp.
Trong Nhân Duyên phủ có thể không tìm được tiên đan pháp khí, nhưng có rất nhiều tơ hồng.
Trong phường tơ có một đám thiên tằm béo trắng sau khi cả ngày ăn no uống say liền thích thú nhả tơ chơi, đống tơ tằm ấy sau khi đem nhuộm trong hồng trần liền biến thành sợi tơ hồng sáng chói. Nhưng không phải mọi sợi tơ đều có thể làm tơ hồng trong tay Nguyệt Hạ tiên nhân, phải là những sợi tơ dán lên kéo căng không đứt, chịu được xoay trở đủ kiểu mới có thể đem sử dụng. Những thứ còn dư các tiên thị đều coi như quét rác vứt ra khỏi phủ, ngẫu nhiên rơi một hai cuộn xuống trần liền bị những phàm nhân thiếu hiểu biết chế thành những thứ như Thiên tàm nhuyễn giáp để ngăn cản đao kiếm.
Ta nhàn rỗi không có việc gì làm ngẫu nhiên cầm một hai cuộn tơ hồng tết thành bông hoa, không cẩn thận rơi vào trong mây, không ngờ những bông hoa ấy rơi xuống đất lại có thể mọc rễ, cành lá sum suê. Các tiên thị trong phủ sau khi nhìn thấy cảnh ấy đều chậc chậc lấy làm kì lạ, nói là cả ngàn năm nay chưa từng thấy bông hoa nào chân thực mà còn có hương thơm như vậy, liền lũ lượt tới tìm ta.
Có qua mà không có lại, đó là phi lễ vậy. Để không làm các tiên thị, tiên cô tới lấy hoa của ta cảm thấy khiến ta chịu thiệt, ta đành cố gắng nhận những thứ họ tặng. Hai tuần trăng trôi qua, cũng rất phong phú, ta tính toán, liệt kê ra một tờ giấy: lá cây có thể ẩn thân năm chiếc, bút lông sói Văn Xương tiên nhân từng dùng một cây, Hứa Nguyện Đăng của Tư Mệnh Tinh Quân một chiếc, đạo thư ít ỏi mà Nguyên Thủy Thiên Tôn đề chữ một quyển, tóc xanh lúc Dạ Thần chải đầu rụng xuống một sợi, lông đuôi của Hỏa Thần Phượng Hoàng một cây… không thể tưởng tượng nổi.
Nhưng mà, trong trăm thứ đồ bỏ đi nhất định phải có một thứ bảo vật. Bảo vật đó là hai quả trứng Chu Tước do tiểu tiên thị Liễu Thính trong Tê Ngô cung của Hỏa Thần tặng ta.
Hôm trước, sau khi Liễu Thính lấy được một bó hoa thơm của ta, thò tay vào trong áo moi moi móc móc cả nửa ngày, ta nhìn thấy vẻ mặt đau khổ nhăn nhó của hắn, thực sự rất sợ hãi, nghĩ là hắn muốn moi tim móc phổi, vừa định nói chỉ vẻn vẹn hai bông hoa tiên thị cứ cầm đi, nào ngờ hắn móc ra hai quả trứng gà luộc bóc vỏ đỏ au trịnh trọng đặt lên bàn của ta.
Hai quả trứng gà đỏ lấp lánh lăn mấy vòng trên bàn, ta cười gượng hai tiếng: “Ha ha, xin cung kính chúc mừng Liễu Thính tiên thị có được tiên đồng”.
Liễu Thính sững người, trên mặt bỗng chốc còn đỏ hơn cả quả hỉ đản(1) để trên bàn: “Cẩm Mịch bán… bán tiên… Liễu Thính… Liễu Thính tuổi vẫn còn nhỏ, còn chưa có… chưa có… chưa có tiên cô… thành duyên”.
Chưa kết duyên liền phát hỉ đản? Lẽ nào đây chính là việc “ăn cơm trước kẻng” khiến Hồ Ly tiên đau đầu nhức óc mà ông ấy nói mấy ngày trước? Ảo diệu thay!
“Hỉ đản này…”, ta há há mồm, Liễu Thính tiên thị nghe thấy nghẹn họng, vẻ mặt vừa mới đỏ ửng lúc này lại có mấy phần tím tái. Ta đưa một cốc nước cho hắn, hắn rất khó khăn uống một hơi, nắm lấy ống tay áo của ta đau khổ nhăn nhó nói: “Đây là trứng của linh điểu Chu Tước trong cung của Hỏa Thần điện hạ, tám trăm năm mới có một quả đấy!”.
Ta xoa xoa quả trứng Chu Tước đỏ au, trong lòng vui như hoa nở. Liễu Thính nói: “Ăn nó, một quả có thể tăng thêm trăm năm linh lực, hai quả thì có thể tăng thêm ba trăm năm linh lực”.
Hôm nay dậy sớm, thấy mặt trời rực rỡ, chim hót hoa thơm, ta lật giở quyển hoàng lịch, dùng cây bút lông sói của Văn Xương tiên nhân chấm đầy mực viết một dòng: “Ngày tốt, nên luộc trứng”.
Một quả đem ninh bằng lửa nhỏ, một quả đem rán bằng lửa to. Hương vị trứng Chu Tước quả nhiên không tầm thường, trong vị mềm của trứng gà có một phần hương vị của trứng vịt, sau khi ăn vào bụng lại có vị chát của trứng chim cút, rất hợp ý ta, thế là ăn thêm hai bát.
Ăn xong một lúc, ta liền cảm thấy một luồng khí nóng bừng bừng xông lên từ huyệt bách hội, chạy tới khắp các kinh mạch toàn thân, rất vui sướng, liền ngưng thần đả tọa.
Nào ngờ luồng khí nóng bừng bừng ấy sau chốc lát lại bùng lên giống như lửa cháy rừng rực, ta chỉ cảm thấy toàn thân như ở trong đống củi cháy, nóng bỏng không thể chịu nổi, lại như lăn trong dầu, ngũ tạng đều bốc cháy.
Ta loạng chà loạng choạng chạy ra cửa điện, gặp ngay Hồ Ly tiên đang đến tìm ta, ông ấy thấy ta như vậy liền kinh hoàng thất sắc, dìu ta vào trong nhà. Ta ráng chịu đau kể cho ông ấy nghe đầu đuôi câu chuyện.
Hồ Ly tiên sắc mặt nghiêm túc bắt mạch cho ta, sau khi vỗ trán suy nghĩ hồi lâu, tiêu sái viết một tờ giấy đưa cho tiên thị đứng bên, dặn dò mau đi sắc thuốc.
Ta tuy toàn thân đau đớn song thần chí lại rất tỉnh táo, chỉ thấy quanh thân hơi nước lượn lờ, mờ mờ mịt mịt. Ta cố gắng mở miệng nói với Hồ Ly tiên: “Không ngờ Nguyệt Hạ tiên nhân còn tinh thông y lý”.
Hồ Ly tiên nheo nheo đôi mắt sáng, nói: “Biết sơ sơ”.
Sau nửa canh giờ, một đám người kéo tới Nhân Duyên phủ, đều mặc áo giáp mang đao giống hệt nhau, người thẳng như cây bút lông, trong lúc bước đi tỏa ra sát khí. Đám người này sau khi tiến vào phủ không nói hai lời liền đặt ta lên cáng, nhấc lên rồi mang đi.
Hồ Ly tiên loạng choạng đuổi theo sau, khóc đến xé tim nứt phổi: “Các ngươi là lũ táng tận lương tâm! Định cướp Cẩm Mịch nhà ta mang đi đâu?”.
Ta ngẩng đầu nhìn bầu trời màu xanh, chịu đau.
Hồ Ly tiên cổ họng khản đặc đấm ngực giậm chân: “Mịch nhi à, gia gia có lỗi với con. Mắt nhìn thấy con bị lũ giặc bắt đi gán nợ mà cũng không biết làm thế nào…”.
“Thúc phụ cứ kêu nữa đi, sợ là tên tiểu yêu này chưa tới một giờ nữa sẽ tan thành tro bụi.” Phượng Hoàng từ đầu tới giờ vẫn đứng ở bên lạnh lùng nhìn nhẹ nhàng nói một câu.
Hồ Ly tiên gạt nước mắt đứng thẳng dậy, cười híp mắt nói: “Ta từ lâu đã muốn diễn một màn kịch sinh li tử biệt ác bá cướp thiếu nữ rồi”.
Tay những thiên binh đang khênh cáng run run. Ta cắn cắn răng, tiếp tục chịu đau.
Sự thực đã chứng minh với y thuật Hồ Ly tiên quả thực chỉ hiểu biết “sơ sơ”, ông ấy cắt thuốc cho ta, nhiệt độ trên người ta không những không giảm, mà còn tăng lên gấp mấy lần. Cởi chuông cần phải tìm người buộc chuông, trứng Chu Tước ta ăn là thứ trong cung của Hỏa Thần, Hồ Ly tiên liền đốt cây hương truyền âm, khẩn cấp mời Hỏa Thần Phượng Hoàng tới.
Phượng Hoàng đang ở trên thao trường thao luyện thiên binh thiên tướng, không biết thúc phụ đã gặp chuyện gì bất trắc bèn dẫn theo thiên binh thiên tướng tới Nhân Duyên phủ trong chớp mắt.
Hồ Ly tiên kể cho đứa cháu nghe hết nguyên do sự tình, tên Phượng Hoàng cháy khét kia liền nhướng đôi lông mày cao ngạo của hắn lên liếc xéo ta một cái, sau đó lệnh cho thiên binh thiên tướng đưa ta về Tê Ngô cung chữa bệnh.
Trước khi rời khỏi Nhân Duyên phủ, Hồ Ly tiên vẫy vẫy chiếc khăn lụa, cắn đôi môi hồng nhìn theo nói: “Mịch nhi, lần này tới Tê Ngô cung phải khôn khéo lanh lợi, hầu hạ tốt Húc Phượng đại quan nhân”.
Đuôi mắt Phượng Hoàng xếch lên. Ta cuối cùng cũng được thỏa nguyện ngất đi.
Khi ta tỉnh lại, liền thấy bầu trời vừa tròn vừa đỏ y như quả trứng Chu Tước, bên trên còn có những đám mây lửa đỏ rực cũng y như những quả trứng Chu Tước.
Ôi, chẳng qua chỉ ăn có hai quả trứng Chu Tước, sao trời đất lại biến thành như thế này.
Ta ngoái cổ, bỗng nhìn thấy một vật gì đó không giống trứng Chu Tước, dọa cho ta thất kinh. Chỉ thấy trong mây khói mịt mờ, một thiếu niên khoanh chân ngồi cạnh, sắc mặt lãnh đạm, khẽ nhắm cặp mắt dài, mái tóc đen buộc một nửa ở trên vai.
Ta đang nghi hoặc, cặp mắt kia đột nhiên mở ra, ánh mắt sắc bén như bảo kiếm rút ra khỏi vỏ nhìn bốn phía. Sao lại là tên Phượng Hoàng này, mái tóc buông xõa như vậy, ta còn nghĩ là mình đã xuống địa phủ trông thấy quỷ câu hồn rồi chứ.
Phượng Hoàng giơ tay ra, đầu ngón tay đặt trên mạch của ta. Ta cúi đầu nhìn ngắm bàn tay ấy, trắng trẻo, thon dài, ngón tay thẳng, đầu ngón tay bóng loáng. Thực là kẻ đáng ghét, ngay cả ngón tay cũng ngạo mạn như vậy.
“Nín thở, nội vận mười hai chu thiên.” Phượng Hoàng ra lệnh cho ta.
Ta thực thà làm theo lời hắn, vừa phát hiện ra đã hoàn toàn không còn cảm giác đau đớn, chỉ là linh lực dường như yếu hơn trước rất nhiều, thật đáng buồn.
Phượng Hoàng hừ một tiếng: “Con tiểu yêu nhà ngươi, trời sinh thể chất âm hàn, chỉ hợp dung thủy để dưỡng, lại không biết tự lượng sức mình ăn trứng linh điểu Chu Tước của ta, Chu Tước thuộc tính hỏa. Nếu không phải thúc phụ của ta cứu giúp, ngươi đã sớm tan thành khói rồi”.
Ta nước mắt rưng rưng: “Nhân gia là bồ đào, luôn sống trong đất, không phải thủy dưỡng. Nhân gia nghĩ Chu Tước là họ hàng của heo, nào biết đâu nó là họ hàng của lửa, linh lực còn không được một nửa…”.
“Thôi đi, ngươi không cần lắm lời, để cho ngươi dưỡng thương trong Tê Ngô cung này đi.” Phượng Hoàng phất áo đứng dậy, gọi một tiểu tiên thị lại dặn dò: “Ngươi dọn dẹp căn phòng cho tên tiểu yêu này nghỉ ngơi”.
Ta quẹt quẹt những giọt nước mắt còn chưa kịp rơi xuống má, đi theo tiểu tiên thị kia.
“Kìa… Cẩm Mịch bán tiên, điện hạ sao lại gọi ngài là tiểu yêu?” Sao trong thiên hạ lại có thể có kẻ không biết điều như vậy, ta u ám nhìn tên tiểu tiên thị đang đứng đờ ra, chẳng phải ai khác, chính là tên Liễu Thính đưa trứng Chu Tước cho ta.
“Liễu Thính, ta giờ đây nguyên khí địa thương, phải bồi bổ một chút.” Ta tìm trong gian phòng một chiếc ghế hoa lê rồi ngồi lên.
“À? Vâng.” Liễu Thính sững sờ một lát, sờ sờ sau đầu, “Không biết Cẩm Mịch cần thứ đồ bổ gì?”.
Ta hạ giọng nói vào bên tai hắn: “Yêu tinh chúng ta đương nhiên chỉ thích ăn bé trai bé gái, tiên đồng lại càng tốt”.
Liễu Thính mặt trắng bệch chạy chối chết.

Đọc tiếp Hương mật tựa khói sương – Chương 3.1

Bài viết liên quan đến Hương mật tựa khói sương:

Hãy bấm vào truyen trung quoc để quay lại trang chủ truyentrungquoc.com bạn nhé!

 

Hương mật tựa khói sương 1.2

Hương mật tựa khói sương – Chương 1.2

Cầm con dao, ta xoay lưng lại phía mặt của con quạ đen, ngồi lên trên bụng dưới của nó, cầm lấy cái bọc đó chuẩn bị hạ lưỡi dao xuống, bất chợt nghe thấy sau lưng có một tiếng quát phẫn nộ như sấm sét giữa trời quang: “To gan!”.
Trong đêm thanh vắng tĩnh lặng thế này, đột nhiên lại vang lên một âm thanh không hài hòa như vậy, thực khiến người ta sợ hãi. Ta sợ tới mức ngã xuống đất, con dao trong tay suýt nữa cắt đứt cả tay.
Chỉ thấy con quạ đen trần truồng kia từ trên giường của ta ngồi bật dậy, một đôi mắt lóe sáng như mũi dùi đang liếc xéo ta. Bị người ta nhìn xuống như vậy, ta bỗng cảm thấy mất hết dũng khí, thế là nhặt con dao đứng lên, như vậy mới có thể miễn cưỡng cùng nó nhìn thẳng. Ta không khỏi cảm khái trong lòng: không hổ là một con quạ đen đã đắc đạo thành tiên, ngay cả dáng người cũng cao hơn cây mía trong sân nhà lão Hồ.
Không khỏi lại nghĩ tới mình đã tu luyện bốn nghìn năm nhưng đạo hạnh chẳng tiến triển mấy, đến giờ bộ dạng vẫn là một đứa trẻ mười tuổi ở nhân gian, thậm chí so với Liên Kiều có một nghìn năm đạo hạnh còn non nớt hơn nhiều. Đương nhiên lúc đó ta còn chưa biết mình không phải là một bồ đào tinh bình thường.
Ta còn đang rất hổ thẹn vì vóc người nhỏ bé của mình, con quạ đen đã dùng ánh mắt sắc bén nhìn ta từ trên xuống dưới một lần, mở miệng quát hỏi: “Dưới kia là tiểu yêu phương nào?”. Tuy trên người không một mảnh vải nhưng khí thế của con quạ đen này lại hoàn toàn áp đảo ta, khi đó lần đầu tiên ta ý thức được rằng quần áo và khí thế hoàn toàn chẳng có nửa phần quan hệ.
Có điều ta tuy đạo hạnh nông cạn, nhưng tốt xấu gì cũng là một tinh linh, đường đường chính chính lấy tu tiên làm mục đích phấn đấu cao cả, bị một con quạ đen gọi là tiểu yêu thực khiến ta bi phẫn vô cùng.
Nghĩ lại con quạ đen này vừa mới cận kề cái chết, ăn được một giọt mật của ta liền khôi phục hoàn hảo như xưa, mà loại mật ta ủ có công hiệu như thế nào ta hoàn toàn nắm rõ, đủ thấy đạo hạnh của con quạ đen này không thấp. Ta nếu cùng nó đấu phép nhất định sẽ thất bại thảm hại, càng đừng nói tới việc ta vừa muốn lấy nội đan tinh nguyên của nó, nếu để nó biết, chỉ sợ hôm nay chính là ngày ta hương tàn ngọc nát.
Cân nhắc một phen, ta làm ra vẻ hòa hoãn thân thiện, khiêm tốn cung kính nói: “Đạo hữu cứ gọi ta là “ân công” là được, làm việc thiện không lưu tên tuổi là truyền thống tốt đẹp của tinh linh trong Thủy Kính ta”.
Lời này nói rõ ta là ân nhân cứu mạng nó (tuy bản ý của ta là cứu nó xong sẽ ăn thịt nó, nhưng cách làm khác mà cùng một hiệu quả, cứ coi là ta cứu nó), nó đương nhiên không thể giết ân nhân của mình được, hai là nhắc nhở nó ta thuộc tộc tinh linh chứ thực không phải là tiểu yêu trong miệng nó.
“Ân công sao?” Con quạ đen nhìn ta một cái, cười nhạt thếch.
Nhìn thấy thế trong lòng ta lạnh toát, nghĩ là đã bại lộ nhưng vẫn cố gắng tỏ ra bình thản nói: “Chả lẽ lại không đúng. Hôm nay đạo hữu rơi xuống vườn của ta, bị thương rất nặng, để cứu tính mạng của đạo hữu, ta đã đem cả hũ mật hoa tự tay bí chế cho đạo hữu uống, lại còn vì ngài điều hòa chân khí, đạo hữu mới tỉnh lại”. Trời xanh chứng giám, trừ phần “cả hũ mật”, lời nào cũng xác thực.
Con quạ đen kia bỗng nhiên cười tươi rói, tuy vẻ rực rỡ khó so với cảnh cả vườn hoa đào khoe sắc nhưng lúc đó nhìn thấy ta lại có ý sợ chết khiếp. Chỉ thấy nó âm trầm mở miệng nói: “Đạo hữu vừa mới vung dao lên không phải cũng định cứu tính mạng của ta đấy chứ?”.
Ta trịnh trọng suy nghĩ một lúc, thương cảm kéo một tấm chăn đắp lên người nó: “Ta thấy đạo hữu áo quần rách rưới, vốn muốn thay cho đạo hữu một bộ quần áo, nhưng không ngờ ở dưới bụng dưới của đạo hữu mọc ra một khối u, tuy là thân tàn chí không tàn không hẳn không phải là việc tốt, nhưng mà chung quy vẫn có chỗ khác với người thường, ta đã cứu đạo hữu, đương nhiên việc tốt phải làm cho trót, cho nên muốn thay đạo hữu khoét khối u này đi”.
Ta vừa nói xong, sắc mặt con quạ đen rất cổ quái, lúc xanh lúc trắng, vô cùng dị thường, lại nhìn ta từ trên xuống dưới một phen, hỏi: “Ngươi là nữ nhi?”, tiếp đó lại nói: “Đã là thân nữ nhi, lẽ nào không biết nam nữ có chỗ khác nhau? Làm bừa như vậy còn ra thể thống gì!”. Trong lời nói có phần tức giận.
Chuyện này ta chẳng biết trả lời như thế nào, ta chỉ biết muôn loài có phân biệt hoa, cỏ, cây cối, người, cá, chim, thú, từ trước tới nay chưa từng nghe thấy cái gì là sự khác biệt giữa nam với nữ, rất là hoài nghi. Sau này có một hôm, sau khi nghe ta kể xong câu chuyện này, lão Hồ mười phần bi phẫn, nước mắt rưng rưng tố cáo: “Ta chính là thân nam nhi, Tiểu Đào Đào sao có thể trắng trợn nói là chưa từng nhìn thấy nam nhi!”. Ta không để ý lắm an ủi ông ấy: “Ta nghĩ phàm là cà rốt lớn lên đều giống hệt ông”. Lão Hồ đấm ngực giậm chân.
Lúc ta đang mơ hồ và bàng hoàng vì suốt bốn ngàn năm đây là lần đầu tiên ta biết mình là nữ nhi, mà trên đời còn có một giống loài khác gọi là “nam nhi”, con quạ đen tự xưng mình là thân nam nhi kia dùng tay vân vê búi tóc trên đầu ta, nói: “Xem như ngươi tuổi còn nhỏ, lại ở nơi hoang dã bên ngoài thiên giới, ta tạm không tính toán với ngươi”.
Ta phẫn nộ đang muốn cãi lại, nhưng con quạ đen kia lại niệm khẩu quyết biến ta hiện nguyên hình, ta đứng không vững liền lăn long lóc trên thành giường rơi xuống, con quạ đen kia lại hứng thú dùng đầu ngón tay kẹp ta lên: “Ta tưởng là thứ gì, thì ra là quả bồ đào tinh bé xíu”.
Nhìn thấy đôi môi mỏng của hắn lúc mở lúc khép trước mặt, ta bỗng nhiên nghĩ tới lời của lão Hồ: “Quả tinh, quả tiên như ta và cô vốn rất hiếm, chỉ cần đi ra ngoài là bị ăn thịt ngay”. Ta run lẩy bẩy nhắm chặt đôi mắt, lão Hồ à lão Hồ, ra quân chưa thắng trận thân đã vong, ta hôm nay còn chưa rời khỏi Thủy Kính đã bị một con quạ đen ăn thịt rồi, tha thứ cho ta đi trước một bước.
Hậu quả khi nhắm mắt là, không cẩn thận liền ngủ luôn.
Đợi khi ta ngủ say tít mít tỉnh lại, lại thấy trước mắt một mảnh tối sầm, sao trời còn chưa sáng, lại cảm thấy một trận Thái Sơn áp đỉnh, trong lòng thầm nghĩ không phải là mình đã chui vào trong bụng con quạ đen kia rồi chứ, nếu bây giờ ta biến lại thành hình người, không biết có làm cho bụng nó trương phình ra hay không.
Nói biến liền biến.
Sau khi biến thành hình người, trước mắt ta bỗng là một khoảng rộng rãi sáng sủa, nhưng không phải là ta làm cái bụng của con quạ đen ấy trương phình ra. Thì ra con quạ đen ấy không biết lúc nào đã biến thành hình chim, đang dang cánh ngủ trên giường của ta, vừa rồi chính là cánh của hắn đè lên người ta.
Thì ra, quạ đen không ăn bồ đào. Ta cảm thấy rất yên tâm.
Nghĩ tới hôm qua còn chưa đưa tấu thỉnh cho Trưởng phương chủ, ta liền chuẩn bị lại đi ra kết giới.
Khi sắp bước ra đến cửa, ta chợt nghe thấy một thanh âm như nước chảy ngọc rơi ở sau lưng mình: “Ngươi hãy chuẩn bị bữa sáng”. Nhưng ta quay đầu lại nhìn, chỉ thấy con quạ đen kia đã biến thành hình người, đang lười nhác dựa vào thành giường. Nghe khẩu khí của hắn có vẻ rất hay sai phái người khác, đáng tiếc ta lại có thói quen xấu là không quen nghe người khác sai phái.
Thế nhưng – đáng chán nhất chính là chữ “thế nhưng” này – pháp lực của hắn cao cường hơn ta, tối qua tùy ý niệm khẩu quyết liền biến ta hiện nguyên hình, đắc tội với hắn chắc chắn với ta chả có chuyện gì tốt. Thế là, ta đành ngậm đắng nuốt cay đi ra khỏi cửa, sau lưng còn nghe thấy một tiếng: “Đi nhanh về nhanh”.
Khi ta đưa món ăn ta vất vả tìm được cho con quạ đen kia, sắc mặt của nó lại biến đổi lần lượt lúc xanh lúc trắng một màn y như tối qua, sau đó đưa cho ta một cách căm ghét: “Ngươi tự ăn đi”.
Ta cúi đầu nhìn đi nhìn lại cả đĩa giun đất đang ngoe nguẩy bò lên bò xuống, cảm thấy chẳng có chỗ nào không ổn cả: “Quạ đen không phải đều ăn giun, ăn sâu sao?”. Uổng công ta đào bới khắp vườn sau một phen mới tìm được lũ giun này, miễn cưỡng nhét đầy một đĩa.
Lần này sắc mặt con quạ đen càng phong phú hơn, sau khi các màu đỏ, cam, vàng, lục, xanh lam, tím lần lượt thay phiên, cũng mở được miệng: “Tên tiểu yêu này, ai nói với mi ta là quạ đen?”.

 

Đọc tiếp Hương mật tựa khói sương – Chương 1.3

Bài viết liên quan đến Hương mật tựa khói sương:

Hãy bấm vào truyen trung quoc để quay lại trang chủ truyentrungquoc.com bạn nhé!

 

Hương mật tựa khói sương

Hương mật tựa khói sương bìa mới

              • Tên truyện: Hương mật tựa khói sương
              • Tác giả : Điện Tuyến
              • Dịch giả : Nguyễn Thu Phương
              • Giá bìa : 138000 VNĐ
              • NXB : Văn Học
              • Kích thước : 14,5 x 20,5cm
              • Số trang : 700 Trang
              • Ngày xuất bản : 09/2011

 

 

 

 

 

Giới thiệu nội dung cuốn sách Hương mật tựa khói sương:

Mây nước mênh mang, trong chớp mắt, bốn nghìn năm đã trôi qua. Biển xanh biến thành nương dâu, nương dâu biến thành biển xanh, mọi vật đổi thay, cuối cùng cũng chẳng có gì mới mẻ. Tình yêu rốt cục là cái gì? Dường như đến muôn đời nó vẫn còn trừu tượng.

Thời Thượng cổ, Thiên Nguyên hai mươi vạn năm, tiết sướng giáng. Hoa Thần Tử Phân sau khi sinh hạ con gái thì từ trần, trước khi lâm chung đã cho kỳ nữ uống một viên tuyệt tình đan, giao cho thuộc hạ bảo vệ bí mật về kỳ nữ, rồi đem nàng giấu vào trong “thuỷ kính” bốn vạn năm. Kỳ nữ này mang danh Cẩm Mịch.

Bốn ngàn năm sau, người con thứ của Thiên đế Hoả Thần Phượng Hoàng bị hai rơi vào “Thuỷ kính”, đã được Cẩm Mịch ngay thơ cứu giúp, hơn một trăm năm ở chung, Hoả Thần dần nảy sinh tình cảm với Cẩm Mịch.

Người con cả của Thiên đế là Dạ Thần và Hoả Thần Phượng Hoàng bất hoà với nhau, hắn vón muốn lợi dụng Cẩm Mịch để bức hiếp Hoả Thần, nào ngờ lại bị Cẩm Mịch cuốn hút…

Nơi giao nhau giữa Thiên giới và Ma giới sâu thẳm không lường, cuộc chiến giữa Hoả Thần và Dạ Thần cuối cùng cũng xảy ra. Nhưng nào ngờ, cú đánh cuối cùng không trúng đối phương mà cả hai lại đánh vào Cẩm Mịch mà họ vô cùng yêu…

Cẩm Mịch đã hồn siêu phách tán hay linh hồn vẫn còn vương vấn? Giữa Hoả Thần và Dạ Thần cuối cùng người nàng yêu là ai? Thần tiên, yêu quái, người phàm, đâu mới là thân phận cuối cùng của nàng?

Mục lục Hương mật tựa khói sương

Chương 1.1Chương 1.2Chương 1.3Chương 2.1Chương 2.2Chương 2.3Chương 3.1Chương 3.2Chương 3.3Chương 4.1Chương 5.1Chương 5.1Chương 5.2Chương 6.1Chương 6.2Chương 7.1Chương 7.2Chương 8.1Chương 8.2Chương 9.1Chương 9.2Chương 10.1
Truyện cùng thể loại:

 

Bấm vào đây để quay lại trang chủ truyen trung quoc nhanh nhất

 

A Mạch tòng quân Chương 3

A Mạch tòng quân – Chương 3

Mười lăm tuổi A Mạch đã bắt đầu mặc đồ con trai, tới bây giờ dây thần kinh đã được mài thô như dây đay rồi, do vậy đâu đoán được tâm tư của cô gái kia. Nàng vẫn cho rằng cô gái kia sợ mình, liền giơ tay áo lên vuốt mặt rồi cười hì hì hai tiếng.
Nếu nàng không cười còn không sao, nụ cười này của nàng khiến cô gái kia lại lùi về phía sau thêm hai bước.
Nhìn cô gái nhỏ bị mình dọa tới mức này, A Mạch cũng không biết phải nói gì nữa, chỉ biết ngoác mồm cười mà thôi. Cả hai cùng im lặng, cô gái nhỏ kia thấy A Mạch không có hành vi vô lễ, mới mạnh dạn hơn một chút. Nghe thấy tiếng sôi sùng sục trong bụng A Mạch, cô lặng lẽ đi về đống củi phía góc tường mò mẫm một hồi, khi quay lại đưa cho A Mạch một tay nải nhỏ.
A Mạch nghi ngờ đỡ lấy, lúc mở ra vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, thì ra đó là năm chiếc màn thầu mềm dẻo thơm phưng phức. Nàng không dám tin hỏi lại: “Cho ta à?”.
Cô gái gật đầu, sợ A Mạch lại bị nghẹn như vừa nãy, liền bê một gàu nước tới cho A Mạch. A Mạch cười ngượng nghịu cúi đầu nhìn những chiếc màn thầu trắng phốp, tự dưng lại tiếc không nỡ cho vào miệng. Nàng không nhớ là đã bao lâu không được ăn bánh màn thầu bột trắng rồi, giờ đây mùi vị thơm ngon đó thoảng bay tới khiến nước miếng ngay lập tức tiết ra đầy miệng. Nàng ngẩng đầu nhìn cô gái nhỏ một cái, còn chẳng nhớ phải cảm ơn liền cúi đầu ăn ngấu nghiến. Mãi tới khi ăn hết chiếc bánh thứ ba, động tác của A Mạch mới chậm lại, đúng lúc định đưa chiếc thứ tư vào miệng, đột nhiên nhớ ra người ta có cả thảy năm chiếc bánh, sao mình lại có thể ăn hết được chứ? Nghĩ tới đây, nàng luyến tiếc gói lại bánh vào tay nải, trả về chỗ cũ, rồi cúi đầu nói: “Cảm ơn!”.
Ánh sao từ ngoài cửa lọt vào tạo thành những vệt loang lổ trên người, lúc này A Mạch mới quan sát kỹ cô gái kia. Cô có dáng người mảnh mai, nhiều lắm chỉ mười bốn, mười lăm tuổi, mặt giống như quét nhọ nồi, đen xì xì nhìn không rõ, chỉ có đôi mắt sáng rất lanh lợi.
Cô gái nhỏ này cũng đang kín đáo quan sát A Mạch, tên cô ta là Từ Tú Nhi. Trong nhà chỉ có hai cha con sống nương tựa vào nhau. Hai ngày trước cha cô bị quan phủ bắt đi giữ thành, tới tận giờ vẫn chưa quay về, sau đó quân Bắc Mạc tấn công vào thành, hàng xóm láng giềng đều chạy loạn cả. Từ Tú Nhi vốn cũng định chạy loạn, nhưng lại sợ lúc cha trở về không tìm được mình, hơn nữa cô cũng không dám bỏ nhà đi. Bọn lính Bắc Mạc bên ngoài mặc sức chém giết, đốt phá, cướp bóc, Từ Tú Nhi trốn sau đống củi đã mỏi hết cả chân. Lúc A Mạch mò mẫm vào nhà, cô còn tưởng kẻ ác đột nhập, sợ tới mức run bần bật cả người, sém chút nữa đã khóc. Giờ thấy A Mạch không hề có bất kỳ hành động xâm phạm mình, không những thế lời ăn tiếng nói còn rất dịu dàng, lễ độ, mặc dù vẫn cảm thấy bất ổn khi ở chung trong căn nhà tối với một người con trai xa lạ, nhưng trong lòng lại dần cảm thấy vững tâm lên rất nhiều, không còn sợ hãi như khi chỉ có một mình nữa.
Từ phía xa vọng tới tiếng gào thét đòi giết của binh lính Bắc Mạc, trong lòng Từ Tú Nhi vô cùng sợ hãi. Cô tiến gần về phía A Mạch theo bản năng. A Mạch nhìn thấy cô yếu đuối, đáng thương liền vội vàng lên tiếng an ủi: “Đừng sợ! Chúng ở cách xa đây lắm, khu này nghèo xơ xác, có lẽ chúng sẽ không quay lại đâu”.
A Mạch vừa nói xong thì nghe thấy bên ngoài có tiếng người gào to: “Ở đằng kia, mau đuổi theo!”.
Tiếp đó tiếng gào giết càng lúc càng gần.
A Mạch khiếp sợ kéo Từ Tú Nhi chạy vào trong sân, định nấp vào chỗ vừa trốn, nhưng vừa mới ra khỏi cửa nhà đã đứng ngây lại. Ánh lửa lấp loáng trong ngõ, hơn mười tên lính Bắc Mạc đuổi theo một tướng lĩnh Nam Hạ ôm một đứa trẻ sơ sinh đã tới cửa nhà lớn rồi.
Đám người này đến nhanh thật! Bây giờ có nấp cũng không kịp nữa rồi.
Dưới ánh lửa, A Mạch chỉ cảm thấy viên tướng bị truy sát kia hơi quen, nhìn kỹ lại hóa ra là viên hiệu úy nàng gặp lúc mới vào thành Hán Bảo.
Đường Thiệu Nghĩa một tay ôm đứa trẻ sơ sinh, tay kia cầm kiếm quyết chiến đấu không chịu lùi bước. Do ẩn nấp không tiện, A Mạch quyết định lộ mặt tìm cơ may sống sót. Khóe mắt Đường Thiệu Nghĩa lướt qua A Mạch và cô gái đang ngây người đứng ở cửa nhà, chàng cố gắng đỡ lưỡi đao của một tên lính Bắc Mạc vung tới, rồi quay người vừa ném mạnh tay nải trong tay về phía A Mạch vừa hét to: “Vào nhà!”.
A Mạch bị tay nải đập mạnh, trên tay lúc này đã có thêm một trẻ sơ sinh đang khóc oe oe, trong lúc hoảng loạn không nghĩ được gì, nàng vội vàng kéo Từ Tú Nhi quay vào trong nhà, đóng chặt cửa lại. Trong tay Đường Thiệu Nghĩa không còn đứa trẻ vướng víu, kiếm khí linh hoạt, trong nháy mắt đã có vài tên lính Bắc Mạc chết dưới đường kiếm. Toán quân Bắc Mạc ép dần Đường Thiệu Nghĩa tới trước cửa, một tên gào to: “Phóng hỏa!”. Ngay lập tức mấy bó đuốc được ném vào trong nhà, Đường Thiệu Nghĩa múa kiếm chém rơi mấy bó, nhưng vẫn có một bó rơi vào nhà.
Giấy dán cửa bắt lửa cháy, ngọn lửa quái ác ngay lập tức bén sang song cửa, tiếp đó khói đặc ùa vào nhà. A Mạch luôn mồm kêu, với tình hình trước mắt quân Bắc Mạc đương nhiên không có ý định bắt sống, nếu chạy ra ngoài nhất định sẽ bị muôn đao chém chết. Nhưng không chạy thì bó đuốc kia cũng đốt cháy ngôi nhà này, nếu không biến thành vịt quay thì cũng bị hun chết vì khói mất thôi. A Mạch cúi đầu nhìn đứa bé trong tay đã không còn khóc thành tiếng được nữa, liền nghiến răng nhét đứa trẻ vào lòng Từ Tú Nhi, rồi quay người lao vào ngôi nhà ngập ngụa khói, loáng một cái đã lao ra, tay cầm chiếc chăn bông cũ rách. A Mạch còn chẳng thèm giải thích với Từ Tú Nhi, lao tới vại nước rồi nhúng cả chiếc chăn vào, cuối cùng gọi to:
“Lại đây! Nhanh lên!”
Từ Tú Nhi vội vàng ôm đứa trẻ vừa lăn vừa bò tới, A Mạch trùm chiếc chăn đã ngấm nước lên ba người, thầm nghĩ có thể kéo dài được lúc nào hay lúc ấy. Hy vọng người đàn ông bên ngoài đủ bản lĩnh hạ hết được bọn lính Bắc Mạc, còn không lần này chắc chắn biến thành vịt quay mất. Đưa mắt sang nhìn Từ Tú Nhi đang run bần bật, A Mạch vội đỡ đứa bé, gượng cười an ủi: “Đừng sợ! Nhà toàn là tường đất, không dễ cháy đâu, cháy được một lát sẽ tự tắt thôi!”.
Gắng chịu một lát, cả hai nhận thấy nhiệt độ xung quanh càng ngày càng cao, không khí càng lúc càng loãng, A Mạch nghĩ lần này chết chắc rồi, so với việc bị thiêu chết trong này, thà ra ngoài bị chém một đao còn dễ chịu hơn, liền gọi Từ Tú Nhi: “Đi thôi, chúng ta lao ra ngoài!”.
Từ Tú Nhi lắc đầu đáp: “Chân tôi mỏi nhừ rồi, không nhúc nhắc được nữa”.
A Mạch chửi thề mấy câu, dùng đầu đỡ chăn, một tay bế đứa bé, tay kia kéo Từ Tú Nhi chạy ra phía cửa. Vừa được mấy bước, cửa lớn đã bị người từ bên ngoài xô mở. Chiếc chăn trên đỉnh đầu ngay lập tức được vén ra, Đường Thiệu Nghĩa toàn thân máu me bê bết đứng ngay trước mặt nàng, trong ánh lửa trông càng giống với thần Tu La dưới địa ngục. Chàng ta cướp lấy đứa trẻ trong tay A Mạch, nhìn A Mạch và Từ Tú Nhi một cái, tiếp đó vác Từ Tú Nhi lên vai mình, rồi quay người lao ra bên ngoài. A Mạch thấy chàng ta không hề để ý tới mình, cũng chẳng thèm chửi kẻ vong ân phụ nghĩa, vội vàng chạy theo ra ngoài.
Ba người vừa chạy ra giữa sân, chỉ nghe thấy đằng sau một tiếng động lớn, cột nhà cháy sập xuống.
A Mạch ngồi phịch xuống đất, ngây người nhìn lửa cháy rực trời sợ hết hồn, xém chút nữa, e rằng đã bị mất mạng trong biển lửa rồi. Từ Tú Nhi được Đường Thiệu Nghĩa buông tay ra, cũng sợ tới mức mềm nhũn ra trên đất, một lúc lâu sau mới đưa mắt nhìn xung quanh phát hiện toàn là xác của lính Bắc Mạc. Cô ta sợ hãi hét toáng lên một tiếng, rồi vừa bò vừa lăn tới chỗ A Mạch. A Mạch bất đắc dĩ đành phải an ủi mấy câu mới khiến cô ta bình tĩnh trở lại.
Đứa bé trong tay Đường Thiệu Nghĩa luôn miệng gào khóc, không hiểu là do bị sặc khói hay do quá sợ hãi nữa. Từ Tú Nhi không nhẫn tâm nhìn đứa trẻ tiếp tục gào khóc liền đi tới bên Đường Thiệu Nghĩa khẽ nói: “Ông lính à, để dân nữ bế đứa bé cho, cứ khóc mãi thế này, đứa bé sẽ lịm mất”.
Đường Thiệu Nghĩa đang váng đầu nhức óc vì tiếng khóc của đứa trẻ, nghe thấy vậy liền đưa cho Từ Tú Nhi. Kể cũng lạ, đứa trẻ vừa được Từ Tú Nhi bế đã không còn khóc nữa, chỉ giương cặp mắt tròn xoe nhìn cô. Từ Tú Nhi vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ quay đầu lại gọi A Mạch: “Ngươi xem, đứa bé này thật là dễ thương!”.
A Mạch cũng cảm thấy kỳ lạ liền đứng dậy bước tới bên cạnh Từ Tú Nhi xem đứa trẻ. Đứa bé bụ bẫm đó khoảng tám, chín tháng tuổi, quần áo trên người nó được may rất tinh xảo, vừa nhìn đã biết không phải là con nhà thường dân. A Mạch quay đầu lại nhìn Đường Thiệu Nghĩa, nhận thấy chàng ta dường như cũng đang nhìn về phía mình đầy vẻ suy tư. Nàng giật mình mượn cớ giơ tay đùa đứa bé, ghé sát vào người Từ Tú Nhi khẽ nhắc: “Trả đứa trẻ cho người ta đi, chúng ta phải nhanh chóng rời khỏi đây”.
Từ Tú Nhi sững người, nhìn A Mạch khó hiểu, tuy không biết tại sao A Mạch lại muốn mình làm vậy nhưng kể từ khi cùng trải qua quá nửa đêm bên nhau, trong lòng cô đã tin tưởng A Mạch tuyệt đối. Giờ nghe A Mạch nói vậy, cô hơi sững sờ, nhưng cũng không hỏi nhiều liền đem đứa trẻ trả lại cho Đường Thiệu Nghĩa.
“Ông lính à, trả lại ông đứa trẻ này.”
Không ngờ Đường Thiệu Nghĩa lại không chịu nhận đứa trẻ, lông mày lưỡi kiếm của chàng ta nhăn lại, lạnh lùng nói: “Quân Bắc Mạc sẽ nhanh chóng tới đây, nơi này không thể lưu lại lâu được”. Nói rồi liền lột hết quân phục trên xác binh lính Bắc Mạc, vứt một bộ lên người Từ Tú Nhi rồi ra lệnh: “Mau mặc vào, nhanh lên!”.
Không ngoài dự đoán của A Mạch, nhìn thấy đứa trẻ nằm trong vòng tay Từ Tú Nhi không khóc, nên chàng ta muốn để Từ Tú Nhi bế đứa trẻ. Vừa rồi có nhiều lính Bắc Mạc truy sát chàng ta như vậy, e rằng Từ Tú Nhi đi theo có tám, chín phần sẽ xui xẻo. Nếu là bình thường A Mạch sẽ không để ý tới chuyện này, nhưng hôm nay Từ Tú Nhi đã cứu mạng nàng, nàng quả thực không thể giương mắt nhìn cô ta đi theo vị tướng này để nộp mạng. Nàng lấy hết can đảm cười nói: “Thưa tướng quân, em gái tiểu nhân không biết võ, đi theo e rằng sẽ làm liên lụy tới tướng quân, tiểu nhân thấy hay là ngài nên tranh thủ quân Bắc Mạc vẫn chưa đuổi tới nơi này thì hãy bế đứa trẻ đi đi, chúng tôi sẽ không nói hướng đi của ngài đâu”.
Từ Tú Nhi cũng vội vàng nói theo: “Đúng vậy, tướng quân à, dân nữ không thể đi được, dân nữ phải ở đây chờ cha trở về, cha dân nữ cũng là lính, ông ấy đi bảo vệ thành rồi”.
Đường Thiệu Nghĩa đã nhận ra A Mạch, chàng nhìn nàng một cái rồi cười nhạt: “Ngươi căn bản không phải là người ở đây, lấy đâu ra em gái ở đây hả?”, rồi quay đầu nhìn Từ Tú Nhi nói tiếp: “Lúc bọn giặc Bắc Mạc tấn công thành, tướng lính Nam Hạ chết vô số, sau khi phá thành xong bọn giặc còn tàn sát vô độ, đến cả binh lính đầu hàng cũng bị giết, e rằng cha ngươi đã không còn nữa, ngươi không chờ được ông ấy đâu!”.
Đường Thiệu Nghĩa vừa nói xong, Từ Tú Nhi liền than một tiếng, cơ thể vốn đã mỏi mệt của cô trong giây lát liền lịm đi. A Mạch vội vàng đỡ cô ta, một tay nâng đứa trẻ trong lòng cô, rồi giận dữ nói với Đường Thiệu Nghĩa: “Một cô nương yếu đuối không thù không oán gì với tướng quân, hà cớ gì tướng quân lại nói năng tàn nhẫn như vậy? Sao lại dập tắt mọi hy vọng của người ta?”.
Đường Thiệu Nghĩa đỡ lấy đứa trẻ trong tay A Mạch, đứa trẻ liền lớn tiếng gào khóc, nét mặt Đường Thiệu Nghĩa thoáng hiện nỗi đau buồn, thế nhưng ngay lập tức chàng đã kiên nghị trở lại, lạnh lùng nói: “Ta cũng không giấu các ngươi, đứa trẻ này là con trai độc nhất của Lưu đại nhân cai quản thành, cả nhà Lưu đại nhân đã tuẫn tiết vì nước, vì vậy dù thế nào ta cũng phải thay ông ấy giữ được giọt máu cuối cùng này. Hôm nay các ngươi phải giúp ta đưa đứa trẻ này ra khỏi thành, nếu không…”, Đường Thiệu Nghĩa ngừng lại một lát, đe dọa: “Đừng trách ta không khách khí”.
A Mạch nghe thấy chàng ta nói vậy, biết rằng hôm nay mình và Từ Tú Nhi không thể dễ dàng trốn chạy được, nên cũng không nói gì thêm, cúi đầu dùng tay ấn mạnh vào nhân trung của Từ Tú Nhi. Hồi lâu Từ Tú Nhi mới thở hắt ra một hơi, vừa mở mắt nhìn A Mạch liền khóc.
A Mạch mềm lòng trước tiếng khóc của Từ Tú Nhi, chỉ biết nhẹ nhàng an ủi: “Đừng khóc nữa, khóc cũng có ích gì đâu, cô phải sống cho tốt mới có thể an ủi được cha, xét cho cùng cũng chưa rõ cha cô có chuyện không, ta đã từng lên bảo vệ thành, chẳng phải vẫn sống đấy thôi. Đầu tiên chúng ta hãy rời khỏi nơi này, chờ chiến loạn tan rồi thì quay về tìm cha cô”.
Từ Tú Nhi cũng là cô gái kiên cường, khóc một lúc rồi ngưng, chỉ cúi đầu sụt sịt. Trong lúc đó Đường Thiệu Nghĩa đã khoác lên mình bộ quân phục của quân Bắc Mạc, tiếp đó vứt hai bộ quân phục tới nói: “Mau thay đi!”.
A Mạch mặc bừa bộ quân phục, nhìn thấy Từ Tú Nhi cũng đang khoác lên người, liền nghĩ ngăn lại: “Cô không cần phải mặc, chỉ cần búi tóc lên là được, làm vậy sẽ giống phụ nữ đã có chồng”.
Nhận thấy Từ Tú Nhi và Đường Thiệu Nghĩa đang nghi ngờ nhìn mình, A Mạch liền giải thích: “Người Tú Nhi gầy gò, mặc quân phục vào cũng không giống quân Bắc Mạc, trái lại sẽ khiến bọn giặc nghi ngờ, chi bằng ăn mặc giống như một người phụ nữ ôm con, còn hai người chúng ta sẽ giả vờ làm hai tên lính Bắc Mạc chém giết, dâm đãng, cướp bóc. Gặp phải đại quân của giặc đương nhiên sẽ không quan tâm gì tới chúng ta còn nếu gặp toán lính nhỏ cũng dễ che đậy”.
Trong ánh mắt Đường Thiệu Nghĩa thoáng hiện sự tán thưởng, Từ Tú Nhi nghe A Mạch nói vậy lại đỏ mặt ngượng ngùng, thế nhưng tình thế nguy hiểm cũng không để ý nhiều, liền cởi bộ quân phục đã mặc được nửa người ra, tiếp đó búi tóc cho giống với phụ nữ đã có chồng. Ba người nhanh chóng thu dọn, không dám lưu lại lâu. Từ Tú Nhi ôm đứa trẻ, A Mạch và Đường Thiệu Nghĩa bảo vệ hai bên đi ra cửa.

Đọc tiếp A Mạch tòng quân – Chương 4

Bài viết liên quan đến truyện A Mạch tòng quân:

Quay lại trang chủ truyentrungquoc.com để đọc truyen trung quoc hay nhất .

 

A Mạch tòng quân chương 1

A Mạch tòng quân – Chương 1:

A Mạch sinh vào tháng Năm, đúng mùa lúa mạch chín vàng, mẹ A Mạch vừa run rẩy trở về từ cửa tử, mệt mỏi nằm trên giường với sắc mặt xanh xao nhưng vẫn gắng gượng cất giọng nhẹ nhàng hỏi cha A Mạch:
“Đặt cho con cái tên đi!”
Cha A Mạch vừa ôm A Mạch mềm như cục bột nhồi vừa nhìn ngược nhìn xuôi, nghĩ thật làm khó nhau. linh cảm chợt xuất hiện, ông vui mừng hét lên:
“A Đâu! Gọi là A Đâu đi!”
“A Đâu?” Mẹ A Mạch sững người nhìn.
Cha A Mạch nhẹ nhàng đặt A Mạch lên giường, vẻ kinh ngạc xen lẫn vui mừng hiện trên nét mặt. Ông đứng dậy khoa chân múa tay nói:
“Bà quên rồi à? Chính là con lợn con trong hoạt họa Hồng Kông, là con mắt đen đó! Ha ha, họ Mạch, năm nay lại là năm Lợn, gọi là A Đâu xứng đáng lắm! Ha ha…”
Ông vẫn chưa cười xong, một vật thể màu vàng bay vèo về phía ông, đậu thẳng lên mặt.
Mẹ A Mạch mắng: “Con trai mới gọi là A Đâu”.
Cha A Mạch vừa ngượng ngùng lấy miếng tã trên mặt xuống, vừa lén nhìn mẹ A Mạch khẽ hỏi: “Vậy bà nói xem nên đặt tên thế nào?”.
Mẹ A Mạch sững người, gọi tên gì bây giờ? Nếu bà biết còn phải hỏi ông làm gì chứ? Lúc mang thai hai vợ chồng chỉ lo gọi con là cục cưng, nhưng con giờ đã ra đời, không thể đặt là Cục cưng Mạch được.
Hai vợ chồng đang trầm ngâm thì nghe thấy tiếng Ngưu Nhị trong trấn gào to: “Điền chủ lúa mạch, lúa mạch trên đồng tôi đã mang về phơi trong sân, năm nay giàu to rồi, bông lúa mạch to khiếp!”.
Bông lúa mạch? Hai vợ chồng như cùng hiểu ý, nhìn nhau rồi không hẹn cùng gật đầu, thế là cái tên Mạch Huê ra đời.
Sau này A Mạch cứ luôn tự hỏi, nếu năm đó thứ Ngưu Nhị hét toáng lên không phải là bông lúa mạch mà là bí đao, liệu nàng có bị đặt tên là bí đao không nhỉ? Năm A Mạch lên năm, nàng hỏi mẹ câu hỏi ấy khi mẹ đang bán rượu. Mẹ A Mạch chùi bàn tay ướt nhèm vào chiếc tạp dề, cười gượng đáp:
“Đồ khỉ, sao có thể gọi con là bí đao được chứ? Mạch Huê thật hay, cái tên mang đậm hương vị quê hương. Cha mẹ đã phải nghĩ rất lâu mới có thể đặt cho con cái tên mang ý nghĩa sâu xa vậy đấy!”.
Đương nhiên A Mạch không tin, nàng thiết tha mong chờ sự xuất hiện của em trai hoặc em gái, để xem bố mẹ đặt tên cho nó thế nào.
Bụng của bà hàng xóm nhà họ Trần bán đậu phụ hết to rồi lại nhỏ, hết nhỏ rồi lại to, con cái nhà họ Trần dần lớn lên giống như những quả bầu lúc lỉu, chen chúc trên giàn vậy. Còn bụng của mẹ A Mạch vẫn không có bất kỳ động tĩnh gì. Lúc rảnh rỗi A Mạch thường đứng ngây ra ngắm bụng của mẹ, khát khao mong chờ nó cũng có thể to dần lên. Cuối cùng cũng bị mẹ A Mạch phát hiện, bà hỏi: “A Mạch à, con đang nhìn gì thế?”.
“Mẹ ơi, tại sao bụng của mẹ lại không giấu em trai trong đó nhỉ?”
Lần này mẹ A Mạch không trả lời câu hỏi của A Mạch, bà chỉ khẽ cười xoa xoa đầu con gái.
Đêm hôm đó, lúc A Mạch giật mình tỉnh giấc thì nghe thấy tiếng nói chuyện lầm rầm từ bên phòng cha mẹ.
Mẹ A Mạch nói: “Đẻ thêm một đứa nữa đi, con cứ lủi thủi một mình cô độc lắm, đến một đứa bạn cũng không có”.
Nhưng giọng cha A Mạch vẫn kiên định khác thường: “Không được, thời buổi khó khăn thiếu thuốc thiếu thầy, nếu lại đẻ khó thì làm thế nào? Ngộ nhỡ bà có mệnh hệ gì, bà bảo tôi phải sống ở thế giới này một mình thế nào?”.
Hồi lâu mẹ A Mạch buồn bã thở dài nói: “Vợ chồng mình còn có nhau bầu bạn, nhưng sau này A Mạch thế nào đây? Tới lúc vợ chồng mình chết cả, A Mạch sẽ ra sao? Lẽ nào gả nó cho đàn ông thế giới này?”.
Bố A Mạch không nói gì, chỉ ôm chặt mẹ A Mạch, nghĩ ngợi hồi lâu mới an ủi: “Hay là vợ chồng mình nhận nuôi một bé trai đi, nuôi cùng với A Mạch, dạy dỗ nó tử tế, sau này trưởng thành nó có thể chăm sóc A Mạch, bà nói xem làm vậy được không?”.

Đương nhiên đó là chuyện của mười mấy năm trước.
A Mạch bây giờ đang ngồi trong quán trà bên vệ đường, gắng sức gặm bánh bột mỳ khô khốc, rồi ngẩng đầu gọi to: “Tiểu nhị, cho thêm một bình trà!”.
Phía ngoài dịch quán có tiếng truyền lệnh của quân sĩ cưỡi ngựa, chạy vụt qua cuốn tung lớp đất vàng khiến mấy người ho sặc sụa.
“Này, dạo này thường xuyên có lính tráng chạy qua, hay là phía Bắc lại đánh nhau nhỉ?” Ông chủ quán trà hỏi nhỏ.
A Mạch dùng tay đậy bát nước trà trước mặt, nheo mắt nhìn theo người cưỡi ngựa giờ đã biến thành chấm đen dần biến mất ở đằng xa. Phía bắc sắp đánh nhau? Đánh thì đánh, liên quan gì tới nàng chứ? Nàng muốn đi về phía nam cơ mà.
Cách quán trà khoảng sáu dặm về phía nam là một tòa thành nhỏ, lúc A Mạch tới cửa thành phía bắc thì mặt trời vừa qua đỉnh đầu. Nàng nghiêng đầu nhìn hai chữ “Hán Bảo” to đùng trên thành bị mặt trời chiếu tới mức mờ ảo. Nàng cảm thấy cơn đói lại ập tới, không chịu nổi liền chép miệng thắt chặt dải rút. Chiếc bánh bột mỳ đó đúng là không thể chống đói, nếu biết sớm thế này nàng đã không uống nhiều trà tới vậy.
A Mạch cúi đầu đi một mạch vào thành nhưng bị tên lính canh thành ngăn lại, ban đầu hắn nghi hoặc nhìn A Mạch từ đầu xuống chân, rồi hách dịch hỏi:
“Từ đâu tới?”
“Từ phía bắc.” A Mạch thật thà đáp.
“Đi đâu?”
“Về phía nam.”
Dường như tên lính kia cũng nhận thấy có điều gì không bình thường trong câu trả lời của A Mạch, nhưng nhất thời không nói rõ được. Một tên lính đứng bên xúm vào nói: “Đại ca, vừa nhìn đã thấy tên này không giống người tốt, bộ dạng cao to mà lại trắng trẻo giống như đàn bà vậy. Không chừng lại là gian tế từ phương bắc cũng nên”.
Tên lính ban nãy liếc xéo A Mạch từ đầu xuống chân một lần nữa, càng nhìn càng thấy gã trai đứng trước mặt không thuận mắt. Dáng người cao gầy, đã thế tóc lại ngắn củn, cố gắng lắm mới có thể bện được một búi nhỏ đằng sau, đây đâu phải là cách ăn mặc tóc tai của người Nam Hạ, rõ ràng là người nơi khác.
A Mạch cao hơn một mét bảy, thực ra không đến nỗi là quá cao, nếu ở thời cha mẹ nàng, cùng lắm được coi là dong dỏng. Nhưng thời này, đứng trong đám đàn bà con gái lại thuộc dạng “phượng hoàng đứng giữa bầy gà”, và đứng trong đám đàn ông cũng được coi thuộc dạng cao.
A Mạch nhìn tên lính thấp hơn mình tới nửa đầu, thầm than: “Mẹ nói thật chẳng sai chút nào, người thời này phần lớn là thiếu chất, tên này cùng lắm hơn mét sáu, thế mà cũng xứng làm lính kia đấy? Còn kém xa cha nàng”.
Tên lính kia đi vòng quanh A Mạch rồi đột nhiên nhảy về sau một bước rống to: “Lính đâu! Mau bắt thằng này cho ta!”.
Mấy tên lính hùng hổ nhảy bổ về phía A Mạch, không để A Mạch kịp phản ứng gì đã trói quặt cánh gà nàng lại. A Mạch vừa cúi đầu nhìn dây trói trên người vừa vội vàng van xin: “Mấy ông lính ơi, mấy ông hiểu nhầm rồi, hiểu nhầm rồi, tôi là dân lành mà, sao có thể là gian tế được chứ? Không tin các ông cởi trói cho tôi để tôi lấy giấy thông hành cho các ông xem!”.
Đám lính đâu thèm nghe A Mạch giải thích, đẩy mạnh nàng vào thành, đi được nửa đường, vừa hay gặp một vị tướng trẻ và toán thân binh đi tới. Đám lính áp giải A Mạch vội vàng hành lễ nịnh nọt vị tướng trẻ kia: “Bẩm Đại nhân, bọn thuộc hạ vừa bắt được tên gian tế Bắc Mạc”.
A Mạch lớn tiếng kêu oan: “Oan uổng quá, tiểu dân bị oan, tiểu dân là thương nhân đi về hướng nam, trên người tiểu dân có giấy thông hành do phủ Định Châu cấp”.
Giọng nói tuy to nhưng vẫn run run, khuôn mặt chất chứa vẻ chân thành nhưng đượm nét buồn, tốt nhất thì nên nằm bò trên đất để biểu thị sự trung thành, đây là việc cần chú ý khi kêu oan mà có lần mẹ A Mạch đã từng dặn. A Mạch rất chú ý tới điểm này, nghĩ tới việc mình bị trói quá chặt, nếu cứ tiếp tục nằm bò thế này thật mất mặt, nên A Mạch đã chọn cách đứng kêu oan.
Quả nhiên ánh mắt của viên tướng trẻ kia đã bị A Mạch thu hút, nhận thấy viên tướng đang nhìn mình, A Mạch vội vàng gập người, nói: “Xin tướng quân minh xét! Tiểu dân thực sự bị oan!”.
Vị tướng trẻ kia chẳng qua chỉ là một hiệu úy nhỏ, nghe thấy A Mạch cứ luôn mồm gọi mình là tướng quân, nét mặt có phần dịu đi, nhưng vẫn không thèm đếm xỉa tới A Mạch. Chàng chỉ hỏi mấy tên lính áp giải vài câu rồi dặn dò trước tiên cứ áp giải A Mạch tới đại lao rồi thẩm vấn sau.
A Mạch chỉ còn biết thầm trách số phận đen đủi, đang yên lành bỗng cái họa lao tù từ đâu giáng xuống. Nào đâu biết chỉ với một loáng công phu thế này đã khiến bản thân nàng đi một vòng từ quỷ môn quan về. Tình thế giữa Nam Hạ và Bắc Mạc cấp bách, chiến tranh biên giới phía Bắc rất dễ nổ ra, rất nhiều người khả nghi bị bắt, thậm chí còn không cả thẩm vấn, liền xử trảm cho xong chuyện. Giống hoàn cảnh nàng hiện giờ bị giải tới nhà lao coi như đã xong đời.
Bất kể ở triều đại nào, đồ ăn trong đại lao cũng không tài nào nuốt nổi. Ngậm vội cọng lúa mạch, A Mạch lại thầm nghĩ tới miếng bánh bột mỳ đen gặm ở ngoài thành Hán Bảo, nhai trong miệng hào hứng, khi được đưa vào bụng bằng nước chè còn nghe thấy tiếng réo mãn nguyện. Đương nhiên lúc này bụng nàng cũng đang réo ầm lên, nhưng tiếng vọng ra từ trong bụng hơi buồn, nghe chẳng dễ chịu chút nào, A Mạch chỉ còn biết thắt chặt dải rút.
Ban đầu tuy đồ ăn chán tệ, không những thế còn ít, nhưng xấu tốt gì cũng có thể duy trì nhu cầu tối thiểu của cơ thể, cũng không biết vì sao hai ngày gần đây không thấy đưa đồ ăn tới, chỉ có một chút nước nhưng cũng phải nài nỉ mãi mới chịu đưa tới. A Mạch lờ mờ nhận thấy có gì đó bất ổn, quả nhiên ngày thứ mười một ở đại lao, sai dịch dẫn một đám lính dữ tợn, hung hăng đi tới. Sai dịch mở cửa nhà lao, tên lính dẫn đầu không nói không rằng chém phứt đầu một phạm nhân rồi giơ cây đao dính máu lên gào to: “Bọn hung nô Bắc Mạc đến rồi, kẻ nào không muốn chết thì cùng ta ra giữ thành, phàm kẻ nào hăng hái cầm đao giết giặc đều được miễn tội! Ai đi?”.
Nhà lao im ắng như tờ, một lát sau A Mạch là người đầu tiên giơ tay nói: “Tiểu nhân đi! Vì nước giết giặc!”.
Kể cũng buồn cười, ai không đi kiểu gì cũng bị chém chết trong nhà lao, xung phong đi không biết chừng còn đường sống! Khi A Mạch giơ nắm đấm hét to “Vì nước giết giặc”, ngay lập tức rất nhiều phạm nhân bừng tỉnh phản ứng theo, họ vội vàng giơ cao cánh tay hét to: “Vì nước giết giặc!”.
Trong phút chốc tinh thần đám phạm nhân phấn chấn hẳn, lòng yêu nước bỗng chốc sục sôi, trông họ không còn giống với loại người cặn bã cướp giật, trấn lột nữa. Lúc này họ rõ ràng là những chàng trai tràn đầy nhiệt huyết!
Tên lính dẫn đầu tỏ vẻ hài lòng, hắn nhét vội vào tay mỗi phạm nhân một thanh gỗ, tiếp đó đẩy họ lên tường thành.

… Lúc Mạch đại soái còn trẻ lên chơi thành Hán Bảo, bị vu là gian tế Bắc Mac, vừa may gặp Thiệu Nghĩa dẫn quân đi tuần qua, nghe thấy Mạch đại soái la hét: Tiểu nhân bị oan! Thiệu Nghĩa nhìn đại soái thấy dáng vẻ cao to, tóc ngắn, dung mạo đẹp như đàn bà, chàng không dám nhìn thẳng, một trượng phu như thế lẽ nào lại là gian tế! Liền thả ra.
Trích từ Tập hồi ức tướng quân Bắc chinh.

Mạch thị ngôn lục: Chiến tranh là con cờ trong tay nhân vật có quyền có thế, giơ tay đi nước cờ, trong tiếng cười nói cướp đoạt đất đai; chiến trường là lò lửa một mất một còn mà những kẻ thấp cổ bé họng phải đối mặt, giơ tay đao rơi, trong nháy mắt bụi bay khói tán.

Năm thứ hai Thịnh Nguyên lịch Nam Hạ, Bắc Mạc may phúc bảy năm, cuộc thương thuyết giữa Nam Hạ và Bắc Mạc vẫn ở thế giằng co, hỏa khí đầy trời. Miệng lưỡi của người Nam Hạ luôn khéo hơn người phương bắc, nói mãi cán cân lợi thế dần nghiêng về phương nam. Bên Bắc Mạc ngày càng trầm tư. Bên Nam Hạ còn chưa kịp chúc mừng thắng lợi thì bị kinh động tới mức hồn bay phách lạc bởi một tin tức kinh thiên động địa.
Đầu tháng Tám, Bắc Mạc bỗng nhiên dấy hai mươi vạn binh chia hai đường tấn công biên giới phía bắc Nam Hạ, trong giây lát cục diện biến đổi khó lường.
Dân Bắc Mạc nhanh nhẹn dũng mãnh, đối lập với dân Nam Hạ khéo mồm khéo miệng, người Bắc Mạc thích động chân động tay hơn, thuộc phái hành động, từ trước tới giờ tôn chỉ của họ chính là: Nói không được, đánh liền tay!
Có người từng lấy ví dụ như thế này, nếu có hai người cãi nhau tới tận một canh giờ vẫn không thấy động thủ, không cần phải hỏi cũng biết đó là người Nam Hạ; nếu chưa nói được tới hai câu đã đánh nhau, thì cũng không cần hỏi, nhất định là người Bắc Mạc.
Đương nhiên ví dụ trên kể cũng có phần cường điệu.
Sứ thần của Nam Hạ đột nhiên hiểu ra, đầu tiên ngây người, tiếp đó buồn bã đập liên tiếp vào đầu, trời ơi, sao lại có thể quên thói quen xấu của bọn hung nô Bắc Mạc chứ? Lẽ nào phía Bắc Mạc gần đây im thin thít, hóa ra từ lâu họ đã có dự định này.
Danh tướng Bắc Mạc Chu Chí Nhẫn dẫn mười vạn quân Đông Lộ, sau khi bí mật vượt qua núi Yến Thứ, đã tấn công vào khu Lâm Đồng, rồi băng qua sông Tử Nha, tranh thủ đêm tối tiến vào thị trấn trọng yếu phía bắc Nam Hạ, chỉ huy quân lính trực chiến thành Thái Hưng. Cánh quân Tây Lộ mười vạn được chỉ huy bởi danh tướng Bắc Mạc Thường Ngọc Thanh đi xuyên qua thảo nguyên Tây Hồ thành Quốc Đông, vượt qua tuyến Lương Châu, Mậu Thành, thành Tiểu Cát hướng về phía Đông nam, dường như không gặp phải sự kháng cự nào nên đã nhanh chóng tới phía tây thành Thái Hưng Đại Hạ.
Trong một thời gian ngắn rất nhiều thành, trấn phía bắc Nam Hạ liên tục cấp báo.
Nhưng lúc này ba mươi vạn quân Nam Hạ vẫn đóng tại biên giới phía bắc – Tịnh Dương, một tuyến Phiêu Thủy, đối mặt với đại quân Bắc Mạc. Các tướng sĩ của Nam Hạ cảm thấy khó hiểu vô cùng, rõ ràng đại quân mười mấy vạn của Bắc Mạc đang đóng ở phía đối diện, lấy đâu ra hơn hai mươi vạn đại quân đi vòng ra phía sau mình được? Lẽ nào đại quân Bắc Mạc hai mươi vạn quân kia nứt ra từ trong đá?
Đường tiến công của đại quân Bắc Mạc được chia làm hai, người tinh mắt thoáng nhìn sẽ nhận ra đại quân chia hai đường này hướng mũi nhọn về cùng một nơi – Thái Hưng, thế là điểm đại diện cho thành Thái Hưng trên bản đồ bị tướng lĩnh các nước khoanh tròn đi khoanh tròn lại, chấm đi rồi chấm lại tới mức mờ tịt.
Thành Thái Hưng, thành trọng yếu phía bắc nước Đại Hạ có số dân hơn hai mươi vạn, đối mặt với đồng bằng ven sông, đằng sau có Uyển Giang chảy ngang qua, từ trước tới nay luôn là vùng đất tranh giành binh đao, một tòa thành nếu mất, cả dải đất phía bắc cũng sẽ mất luôn.
Ngày hai mươi sáu tháng Tám, cánh quân Đông Lộ Bắc Mạc tới cửa thành Thái Hưng, tiến hành vây thành trong hai mươi bảy ngày, ngồi chờ cánh quân Tây Lộ mười vạn quân do tướng Thường Ngọc Thanh cầm quân.
Lúc này cánh quân Tây lộ của Bắc Mạc vừa tới trước thành Hán Bảo, cách mười tám dặm phía bắc thành Thái Hưng.
Thành nhỏ Hán Bảo từ trước tới giờ không phải là trấn quân sự trọng yếu, cho nên việc phòng bị thành vốn không được coi trọng, tường thành thấp, không có hào sâu cũng chẳng có sông bảo vệ, cho nên càng không cần tới các loại cầu treo. Thậm chí cổng thành cũng đơn giản, đến cả thành phụ cũng không có, bên ngoài thành mấy trượng chỉ dựng một vài hàng rào ngăn kỵ binh, nhìn thưa thớt, tiêu điều tới mức đáng thương. Không cần đoán cũng biết đã bị coi nhẹ, về cơ bản không thể ngăn cản được cái gì.
Có thể dùng một câu để tổng kết: Phòng thủ quá thô sơ! Tường thành so với tường bao của nhà địa chủ phía bắc chỉ cao hơn, dày hơn, dài hơn người đứng phía trên một chút.
Trong thành lính canh có hơn một nghìn, cộng già trẻ lớn bé cả thảy chưa tới hai vạn dân, nếu có để trong miệng đại quân Bắc Mạc cũng không bõ dính răng, chả trách phạm nhân trong đại lao cũng bị huy động lên thành.
Lúc A Mạch bị đẩy lên thành, thành Hán Bảo đã bị quân Bắc Mạc vây chặt tới mức một giọt nước cũng không lọt, nhìn từ thành xuống chỉ thấy đen một màu. A Mạch thò đầu ra, ngay lập tức rùng mình, vội vàng chùn người xuống trốn sau tường bao quanh thành, đã thế này rồi thì liệu có thể giữ được thành chăng? Nếu có thể giữ được thì đúng là kỳ tích.
Đội kỵ binh bọc sắt Bắc Mạc tới dưới thành Hán Bảo trước tiên, hàng vạn kỵ binh bày binh bố trận, tuy rằng không có tác dụng gì đối với việc phá thành, nhưng cũng được coi là sự giễu võ giương oai nhằm nắn gân quan quân Nam Hạ, đồng thời cũng dẹp bỏ ý nghĩ bỏ thành mà chạy của bọn họ. Vả lại hai chân làm sao chạy bằng bốn chân, vì vậy, huynh đệ chúng ta cứ vững tâm mà thủ thành thôi!
Mấy kỵ binh vừa phi nước kiệu từ thế trận của Bắc Mạc, vừa giơ cờ phi nhanh vài vòng trước thế trận, đoàn kỵ binh liền thúc ngựa chia thành hai cánh rút về phía sau, lộ ra trận bộ binh tay cầm khiên. Xen kẽ trong trận là rất nhiều khí giới tấn công như xe phá thành, thang, thang dây dần dần được đẩy về phía trước. Tiếng kèn hiệu lệnh vang lên từ xa, tiếng giáo vàng rộ lên khắp nơi, đại quân màu đen của Bắc Mạc ào lên như nước triều, có cảm giác chỉ cần một con sóng cũng có thể khiến thành Hán Bảo đổ sập.
“Bắn tên! Bắn tên! Bắn chết bọn giặc đi!” Viên quan trên thành vừa vung vẩy chiếc roi trong tay vừa nghiêm giọng kêu gọi.
A Mạch cũng dính vài roi, nàng vội vàng nhặt chiếc cung trên đất lên rồi bắn xuống dưới thành. Nàng đâu biết bắn tên, có điều học cách giương cung của người bên cạnh, thậm chí đến ngắm cũng không dám, cứ thế nhắm tịt mắt buông tay. Thế nhưng lực bắn lại không yếu chút nào, mũi tên bay xuống dưới, chỉ nghe thấy một tiếng kêu thảm thiết vọng lên, một tên lính Bắc Mạc trèo tới nửa thang phá thành đã rơi bụp xuống.
Một tên lính Nam Hạ bên cạnh A Mạch khen một tiếng giỏi, không biết vớ được chiếc mũ giáp từ đâu ném về phía nàng. Tên lính vừa bắn tên xuống dưới thành vừa gào to: “Người anh em, được lắm, đội cái này lên, cẩn thận tên của bọn giặc, cố gắng bắn hết lũ súc sinh này”.
A Mạch sững sờ nhìn chiếc mũ giáp vẫn còn vương vết máu trong tay, nhưng rồi vẫn nghiến răng đội lên, tên đao không có mắt, nàng chẳng muốn chết ở đây, tuy nhiên với tình hình trước mắt, xác suất có thể sống sót rời khỏi chỗ này quả thực rất nhỏ.
Hai tên lính Nam Hạ bên cạnh gắng sức đập những chiếc răng sói sắc nhọn xuống dưới, nhìn thấy quân Bắc Mạc trèo lên thành liền đập xuống, tiếng kêu thảm thiết đập vào tai A Mạch khiến nàng hoảng hốt không yên. Chốc chốc bên cạnh nàng lại vọng lên một tiếng “á” thất thanh, tên lính vừa mới khen nàng giỏi đã trúng tên của quân Bắc Mạc. Một mũi tên dài xuyên qua ngực, máu tươi phun từ miệng bắn lên tường thành, phút chốc đã nhuộm đỏ một góc thành. A Mạch sợ hãi đánh rơi chiếc cung trong tay, nàng chỉ còn biết ôm đầu ngồi thụp xuống, những tiếng kêu thất thanh vẫn không ngừng vang lên. Người A Mạch lại trúng mấy roi, viên quan vung roi giận dữ hét lên: “Mẹ kiếp, còn có thời gian trốn à, bọn giặc lên tới nơi, chẳng tên nào sống nổi đâu!”.
Trên một con dốc nhỏ bên ngoài cổng thành không xa, chủ tướng cánh quân Tây Lộ Bắc Mạc Thường Ngọc Thanh lạnh lùng ngồi thẳng trên lưng ngựa chiến, khóe miệng hơi mím như thể cười nhạt, chăm chú theo dõi trận chiến công thành đang diễn ra gần đó. Đội cận vệ kỵ binh mặc áo giáp đen đứng yên sau chủ tướng, giữa chiến trường hỗn loạn này, vẫn giữ được vẻ tĩnh lặng khác thường, phảng phất như khách xem trên chiến trường, lạnh lùng mà điềm nhiên.
Bỗng Thường Ngọc Thanh giơ tay chỉ roi quất ngựa về một phía tườngthành, tiếp đó vừa cười vừa nói với phó tướng Khương Thành Dực: “Ha ha, Thành Dực à, ngươi xem bọn mọi Nam, thậm chí đến cung còn không biết cầm, những tên như vậy lại được đưa lên để giữ thành, có thể thấy Nam Hạ thực sự không có người nữa rồi”.
Khương Thành Dực nhìn về thành Hán Bảo không kìm chế được cảm xúc, cười tủm tỉm. Trên tường thành có một lính Nam Hạ lóng ngóng nhoài người bắn đại một mũi tên, bắn xong liền vội vàng ngồi thụp xuống trốn sau bức tường, một lát sau lại thò đầu ra bắn một mũi tên nữa. Xem ra mười mũi tên có tới tám mũi rơi xuống thành, may chăng được hai mũi tên bắn ra được, mà cũng lạ chẳng có mục tiêu gì cả, chẳng trúng được ai.
Nụ cười của Khương Thành Dực nhanh chóng biến mất, hắn quay đầu nhìn Thường Ngọc Thanh rồi thận trọng nhắc: “Tướng quân, chỗ này gần tường thành quá, tên bay đạn lạc quá nhiều, để bảo toàn mời tướng quân luia về sau thế trận quan sát”.
Thường Ngọc Thanh chậm rãi lắc đầu, khóe môi nhếch lên, khẽ giơ tay nói: “Mang cung tên tới đây”.
Tên lính cận vệ đứng cạnh vội vàng lấy cây cung dài sau lưng ra rồi dâng lên bằng hai tay. Thường Ngọc Thanh cầm lấy, đặt tên lên rồi kéo căng cung, mắt khẽ nheo ngắm chuẩn người lính đó. Khi vừa buông tay, chỉ nghe thấy “phựt” một tiếng, mũi tên nhọn được bắn ra mang theo tiếng rẹt sắc nhọn, xé toạc khoảng không rồi bay về phía tên lính nhát gan trên thành kia.

Đọc tiếp A Mạch tòng quân – Chương 2

Bài liên quan đến truỵên cổ trang A Mạch tòng quân:

Quay lại trang chủ truyentrungquoc.com đề đọc nhiều truyen trung quoc hay khác!

Scroll To Top